Một số phương pháp, mốc thời gian phát hiện các di tật, nguy cơ đối với thai nhi

Một số phương pháp, mốc thời gian nhằm theo dõi, phát hiện nguy cơ đối với thai nhi như: di tật, bệnh lý, tình trạng phát triển v.v.

Siêu âm trong theo dõi thai nghén nguy cơ cao

- 10 - 12 tuần: Xác định thai, số lượng thai, tình trạng thai, bệnh lý phối hợp, phát hiện những bất thứờng về nhiễm sắc thể, bất thường về thai. Nếu độ mờ gáy >3mm thì 30% là thai bị hội chứng Down.

- 20 - 22 tuần: Siêu âm khảo sát hình thái thai nhi. Phát hiện các dị dạng thai nhi, vị trí nhau, thể tích nước ối, mạch máu cuống rốn.

- 30 - 32 tuần: Siêu âm đánh giá sự phát triển thai nhi có phù hợp với tuổi thai hay không, ngôi thai, sự phát triển của thai, dị dạng thai nếu có, vị trí hình dạng của bánh rau, lượng nước ốì.

Doppler động mạch tử cung (từ tuần 20 - 24) ở thai nghén nguy cơ cao, thai chậm phát triển trong tử cung, tiền sản giật.

Doppler động mạch rốn 28 - 34 tuần. Thai nghén nguy cơ, nguy cơ mạch máu ở mẹ. Nhiễm độc thai nghén, suy thai, song thai, thai bất thường.

Doppler động mạch não từ tuần thứ 26 thai chậm phát triển.

Đến ngày sinh: Một lần nữa xác định tình trạng thai, ngôi thai, ước lượng cân nặng thai nhi, lượng nước ối, vị trí nhau, từ đó tiên lượng cho cuộc sinh dễ hay khó.

Monitoring sàn khoa theo dõi tim thai

Rất có giá trị trong việc theo dõi và đánh giá sức khoẻ của thai nhi trong thai kỳ và trong chuyển dạ, góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh (morbidity) và tử vong (mortality) chu sinh.

Benh.vn

adv-content