Những yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch

Các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm tuổi, giới, di truyền và các yếu tố có thể thay đổi được tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, béo phì quá cân, hút thuốc lá, ít hoạt động thể lực, ăn ít rau quả, uống nhiều rượu,...

Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch (gọi tắt là yếu tố nguy cơ tim mạch) là yếu tố liên quan với sự gia tăng khả năng mắc bệnh tim mạch. Sự liên quan này mang tính chất thống kê chứ không phải là quy luật chắc chắn. Một người mang một yếu tố nguy cơ nào đó chỉ có nghĩa là người ấy dễ mắc (gia tăng khả năng mắc) bệnh tim mạch. Càng có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, khả năng mắc bệnh tim mạch càng nhiều nhưng không đồng nghĩa là người đó chắc chắn sẽ mắc bệnh. Ngược lại, một người không mang bất kỳ yếu tố nguy cơ nào cũng không thể chắc chắn mình sẽ không mắc bệnh.

Các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm những yếu tố không thể thay đổi được (như tuổi, giới, di truyền) và các yếu tố có thể thay đổi được (9 yếu tố chính như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, béo phì quá cân, hút thuốc lá, ít hoạt động thể lực, ăn ít rau quả, uống nhiều rượu, lối sống căng thẳng và nhiều yếu tố nguy cơ khác nữa). 90% các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim cấp hoặc tai biến mạch não đều liên quan đến 9 yếu tố nguy cơ chính vừa được nêu.

Các yếu tố không thay đổi được

Nguy cơ xảy ra biến cố tim mạch gia tăng khi tuổi đời cao hơn. Hơn nửa số người đột quỵ tim mạch và 80% số chết vì đột quỵ xảy ra ở độ tuổi trên 65. Dù không thể tránh nổi tuổi già, việc ăn uống điều độ, sinh hoạt hợp lý và duy trì một lối sống lành mạnh sẽ góp phần làm chậm lại quá trình thoái hoá do tuổi gây ra.

Đàn ông có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cao hơn so với nữ giới. Tuy nhiên, sau khi mãn kinh, nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở nữ giới sẽ gia tăng nhanh chóng để bắt kịp thậm chí vượt xu hướng mắc bệnh tim mạch ở nam giới. Bệnh lý tim mạch ở nữ giới cũng thường nặng hơn, có tỷ lệ tử vong cao hơn song lại thường bị bỏ sót và đến muộn hơn so với nam giới.

Yếu tố gia đình (di truyền) cũng rất quan trọng: nguy cơ mắc bệnh tim mạch sẽ gia tăng nếu trong gia đình đã có người mắc bệnh tim mạch sớm (dưới 55 tuổi).

Các yếu tố có thể thay đổi được

Tăng huyết áp

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ tim mạch được chú ý nhiều nhất. Gọi là tăng huyết áp khi số đo huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg hoặc số đo huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg hoặc đang được điều trị thuốc hạ huyết áp. Tỷ lệ tăng huyết áp ngày càng gia tăng ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Điều tra mới nhất cho thấy hơn một phần tư số người trưởng thành ở Việt Nam có tăng huyết áp. Cả hai số đo huyết áp tâm thu và tâm trương đều là những yếu tố nguy cơ tim mạch mặc dù số đo huyết áp tâm thu được xem là yếu tố dự báo quan trọng hơn đối với nguy cơ xuất hiện các biến chứng do tăng huyết áp nhất là tai biến mạch não.

Tăng huyết áp thường kết hợp với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như béo phì, tăng rối loạn lipid máu, đái tháo đường... Trong các rối loạn này, một rối loạn này có thể là nguy cơ của rối loạn khác và ngược lại. Kiểm soát thành công tăng huyết áp làm giảm rõ rệt các nguy cơ xảy ra biến chứng, mặc dù phần lớn bệnh nhân tăng huyết áp sẽ phải dùng các thuốc hạ áp phối hợp để đưa được số đo huyết áp về mức bình thường. Cho dù kết quả điều trị tăng huyết áp chủ yếu phụ thuộc vào việc dùng thuốc nhưng các yếu tố khác như giảm cân nặng, hạn chế muối và tập luyện cũng góp phần đáng kể làm giảm huyết áp của bạn.

Tăng cholesterol trong máu và các rối loạn lipid máu

Rối loạn lipid máu hay tăng hàm lượng các chất mỡ trong máu là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng nhất, thường gặp và liên quan mật thiết đến xơ vữa gây hẹp động mạch vành. Cholesterol máu có nhiều dạng khác nhau, quan trọng nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C, cholesterol tốt có tác dụng bảo vệ giảm xơ vữa) và cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C, cholesterol xấu làm gia tăng xơ vữa động mạch). Để giảm nguy cơ xơ vữa và dự phòng các biến cố tim mạch, cần duy trì nồng độ cholesterol toàn phần ở mức dưới 200 mg/dL (5,17 mmol/L), LDL-C dưới 130 mg/dL (3,34 mmol/L) và HDL-C trên 40 mg/dL (1,03 mmol/L) cũng như triglycerid dưới 150 mg/dL (1,73 mmol/L). Người đã có bệnh tim mạch thậm chí còn cần hạ mỡ máu tích cực hơn nữa bằng thuốc (như các thuốc thuộc họ statin) để dự phòng biến chứng. Nguy cơ mắc bệnh mạch vành giảm 2% mỗi khi cholesterol toàn phần giảm 1%.

Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi tuổi (lượng cholesterol toàn phần tăng theo tuổi), giới (phụ nữ thường có lượng HDL cao hơn) hay gia đình, rối loạn lipid máu vẫn có thể thay đổi đáng kể khi điều chỉnh tích cực lối sống. Chế độ ăn ít mỡ bão hoà và cholesterol có thể làm giảm lượng cholesterol trong máu xuống khoảng 5%. Giảm lượng rượu uống hàng ngày và giảm số cân dư thừa làm hạ thấp đáng kể lượng triglycerid trong máu. Tập luyện thường xuyên cũng làm giảm triglycerid và tăng HDL-C. Ngừng hút thuốc cũng làm tăng HDL-C. Khi lượng cholesterol toàn phần và LDL-C trong máu tăng cao, thường cần phối hợp giữa chế độ ăn uống, luyện tập với việc sử dụng các thuốc làm giảm cholesterol trong máu.

Hút thuốc lá, thuốc lào

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành, tai biến mạch não, hẹp mạch máu ngoại vi cho dù người hút thuốc thường gầy và có huyết áp thấp hơn người không hút thuốc. Nguy cơ đột tử cao khi hút thuốc lá cao gấp 10 lần so với người không hút ở nam và gấp 5 lần ở nữ giới. Thuốc lá là yếu tố nguy cơ số một đối với đột tử và bệnh mạch ngoại vi. 30-40% các trường hợp chết vì bệnh mạch vành có nguyên nhân từ hút thuốc lá.           

Nếu từ bỏ hút thuốc, nguy cơ mắc bệnh tim mạch sẽ giảm dần ngay sau khi ngừng hút kể cả khi đã hút nhiều và lâu năm. Nếu tiếp tục ngừng hút, mức độ nguy cơ sẽ dần dần thấp gần như tương đương với mức ở người chưa từng hút thuốc.

Hút thuốc lá chứa lượng nicotin thấp không làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hơn thế nữa, nhiều người khi sử dụng loại thuốc này có xu hướng hút nhiều hơn và hít vào sâu hơn, tăng mức độ tiếp xúc với các chất độc hại trong khói thuốc và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn.

Lối sống lười vận động

Tập luyện thể lực thường xuyên làm giảm nguy cơ xuất hiện nhồi máu cơ tim đồng thời nâng cao khả năng sống sót khi xảy ra nhồi máu cơ tim. Tập luyện dường như cũng có tác động tích cực tới các yếu tố nguy cơ khác. Ngược lại lối sống ít vận động lại là một trong những nguy cơ tim mạch chính gây ra các biến cố tim mạch.

Uống nhiều rượu

Nếu sử dụng điều độ, tức không quá 1 đến 2 chén mỗi ngày, rượu có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành nhưng uống quá nhiều rượu lại làm tăng nguy cơ biến chứng khác do làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ tổn thương gan, biến chứng não (nhất là xuất huyết não) và một số bệnh lý tim mạch khác.

Quá cân/béo phì

Béo phì ở các mức độ khác nhau đều làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Béo phì có thể tác động tới sự hình thành một số yếu tố nguy cơ tim mạch khác là tiền đề cho xơ vữa động mạch như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu hay đề kháng insulin. Những người béo phì (cân nặng quá 30% so với số cân lý tưởng) rất dễ mắc bệnh tim mạch dù không mang một yếu tố nguy cơ tim mạch nào khác.

Có hai dạng béo phì, ở dạng thứ nhất, mỡ thừa thường tập trung tại vùng bụng và thường gặp ở nam giới (gọi là “bụng bia” hay béo phì dạng quả táo). Dạng thứ hai có sự tích luỹ mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (béo phì dạng quả lê). Béo bụng làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là xơ vữa gây hẹp mạch vành và tai biến mạch não cũng như gia tăng chính các yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng khác như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, giảm dung nạp đường và đái tháo đường.

Tốt nhất, nam giới nên duy trì vòng bụng dưới 90 cm cũng như không vượt quá 90% chu vi vòng mông còn nữ giới nên cố gắng duy trì vòng bụng dưới 80cm và không vượt quá 80% chu vi vòng mông.         

Đái tháo đường và kháng insulin

Người mắc đái tháo đường được coi là có khả năng xuất hiện các biến cố tim mạch tương đương với một người đã mắc bệnh mạch vành. Ngay cả khi lượng đường trong máu chỉ mới tăng nhẹ thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng cao hơn người bình thường. Những người đái tháo đường týp 2 (xuất hiện ở tuổi trung niên, khác với týp 1 xuất hiện sớm ở người trẻ) thường có nồng độ insulin trong máu cao (còn gọi là tình trạng kháng insulin), thúc đẩy tăng huyết áp và tăng lắng đọng cholesterol vào mảng vữa xơ động mạch, thúc đẩy quá trình xơ vữa và các biến chứng của nó. Ngoài việc sử dụng thuốc để kiểm soát đường máu, giảm cân và tập luyện thể lực thường xuyên thúc đẩy quá trình sử dụng đường trong máu và giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh đái tháo đường.

Làm thế nào để ngăn ngừa nhồi máu cơ tim, đột quỵ và các biến chứng khác của xơ vữa động mạch? Trước tiên, cùng với sự giúp đỡ của thầy thuốc, cần đánh giá là nguy cơ tim mạch ở mỗi người là thấp hay cao dựa vào các câu hỏi (như “Bạn có hút thuốc? Bạn có thừa cân? Bạn có uống quá nhiều rượu? Có ai trong gia đình bạn mắc bệnh tim mạch hay tăng huyết áp?”…) cũng như khám xét (như đo huyết áp, đo cân nặng, vòng bụng vòng mông…) và các xét nghiệm máu (đánh giá rối loạn lipid máu và đường máu). Bằng việc kết hợp tất cả các thông tin thu được về các yếu tố nguy cơ tim mạch chính, thầy thuốc sẽ giúp chúng ta xác định được tổng cộng khả năng (nguy cơ tổng thể) xuất hiện các biến cố tim mạch từ, đó đề xuất việc thay đổi lối sống phù hợp và sử dụng phối hợp các thuốc hợp lý để kiểm soát huyết áp, thành phần lipid máu và đường máu.

Những lời khuyên đơn giản dưới đây luôn cần thiết và hữu ích cho tất cả mọi người dù chưa có hay không có các yếu tố nguy cơ tim mạch:

- Thực hiện chế độ ăn uống có lợi cho tim, tăng cường rau xanh, quả tươi giàu chất xơ và protein thực vật; hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no. Giảm ăn mặn (< 3,8 gam muối hay 1,5 gam [65 mmol] natri mỗi ngày). Đa số chúng ta ăn nhiều muối hơn lượng cơ thể chúng ta cần. Nhiều thức ăn tự nhiên đã chứa muối hoặc muối đã được thêm vào trong quá trình chế biến. Đơn giản nhất, hãy hạn chế cho muối vào thức ăn khi nấu nướng.

- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (bằng cân nặng tính theo kg chia cho chiều cao bình phương tính theo mét) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2. Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 cm ở nữ.

- Nếu uống rượu, hãy vừa phải: số lượng ≤ 2 cốc chuẩn/ngày và tổng cộng không quá 14 cốc chuẩn/tuần (nam) hoặc 9 cốc chuẩn/tuần (nữ). 1 cốc chuẩn chứa 13,6g ethanol tương đương với 355ml bia (5%) hoặc 148ml rượu vang (12%), hoặc 44ml rượu mạnh (40%).

- Nếu hút thuốc, hãy ngừng ngay, ngừng hoàn toàn hút thuốc lá,thuốc lào.

- Bắt đầu một chương trình tập luyện thể dục. Tập luyện đều đặn có lợi cho tất cả mọi người. Hãy chọn một phương pháp phù hợp với sở thích, thời gian và khả năng của mình. Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày, 4-7 ngày/tuần.

- Học cách làm giảm căng thẳng, tránh phản ứng với các tình huống có thể gây stress bởi nó chỉ làm vấn đề trở nên trầm trọng hơn mà thôi. Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.

- Đi khám bệnh định kỳ để đánh giá mức độ nguy cơ của bạn. Nếu phải dùng thuốc để kiểm soát huyết áp, rối loạn mỡ máu hay đường máu, hãy đảm bảo uống thuốc lâu dài, đúng, đủ liều, đều đặn và có theo dõi định kỳ để hiệu chỉnh liều thuốc theo tiến triển của bệnh.

CNTTCBTG - BV Bạch Mai

adv-content