Đái máu, bệnh lý đường tiết niệu

Đái máu là tình trạng nước tiểu có máu, có đái máu đại thể và đái máu vi thể

Đái máu là một trong những biểu hiện lâm sàng của nhiều bệnh lý thận tiết niệu, vì vậy khi có biểu hiện đái máu dù ở bất kỳ mức độ nào người bệnh cũng nên đi khám bác sĩ để tìm kiếm nguyên nhân gây đái máu và điều trị kịp thời.

Đại cương về đái máu: đái máu là tình trạng nước tiểu có máu. Có đái máu đại thể và đái máu vi thể.

Đái máu đại thể: khi nước tiểu đỏ sẫm màu, nhận biết được bằng mắt thường. Đái máu đại thể có thể ở mức độ ít sẽ có màu hồng nhạt như nước rửa thịt, có thể đái máu ở mức độ nhiều sẽ có màu đỏ thẫm kèm theo có máu cục. Một số trường hợp có nước tiểu màu nâu sẫm kèm theo lắng cặn nâu ở đáy bô.

Đái máu vi thể: mắt thường không nhận thấy, chỉ phát hiện được khi làm xét nghiệm tế bào học nước tiểu với số lượng hồng cầu > 10.000 hồng cầu/mL. Đái máu vi thể thường được phát hiện tình cờ qua xét nghiệm nước tiểu kiểm tra định kỳ.

Phân biệt đái máu

Nước tiểu có màu đỏ không do đái máu có thể gặp trong những trường hợp sau:

- Do một số thức ăn có nhuộm phẩm màu.

- Một số thuốc (rifampicine, metronidazole...).

Chảy máu niệu đạo: chảy máu từ niệu đạo không phụ thuộc vào các lần đi tiểu tiện do có tổn thương tại niệu đạo (xước, rách, viêm loét...).

Nước tiểu lẫn máu: ở phụ nữ đang có kinh nguyệt khi đi tiểu có thể lẫn máu.

Myoglobine niệu khi có tiêu cơ.

Hemoglobine niệu khi có tan máu trong lòng mạch, porphyline niệu (nước tiểu đỏ sẫm không có máu cục). Cần xét nghiệm tế bào nước tiểu (soi dưới kính hiển vi) để khẳng định đái máu.

Chẩn đoán nguyên nhân đái máu dựa vào:

Hỏi bệnh: khai thác tiền sử (nội khoa, ngoại khoa, sử dụng thuốc), hoàn cảnh xuất hiện đái máu (khi nào thường xuất hiện đái máu ?). Làm nghiệm pháp 3 cốc có thể phân biệt được đái máu từ bàng quang, từ niệu quản hay từ thận.

Khám lâm sàng: toàn thân, hố thận, thăm trực tràng, khám phụ khoa.

Xét nghiệm cận lâm sàng cần tiến hành khi có đái máu:

- Xét nghiệm nước tiểu: tìm tế bào ác tính, cấy vi khuẩn, định lượng protein niệu 24 giờ.

- Thăm dò hình ảnh: Siêu âm, chụp bụng không chuẩn bị, chụp thận có thuốc (UIV), chụp thận ngược dòng có bơm thuốc cản quang (UPR), chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI), chụp mạch máu.

- Nội soi bàng quang, có thể tiến hành trong giai đoạn đang đái máu.

Đái máu do nguyên nhân tiết niệu: trước hết phải cảnh giác với khối u thận tiết niệu gây ra đái máu.

Đái máu do khối u

Khối u nhu mô thận: ung thư thận (95% do adenocarcinome), angiomyolipome, nang thận biến chứng gây đái máu toàn bãi. Siêu âm thận và UIV cho thấy hình ảnh khối ở thận làm biến dạng thận và co kéo đài bể thận. X quang tim phổi, chụp cắt lớp thận và xạ hình xương sẽ giúp phát hiện các hình ảnh di căn.

U biểu mô tiết niệu: u ở xoang, đài - bể thận, u ở niệu quản có thể làm tắc nghẽn niệu quản gây ứ nước bể thận. Ngoài dấu hiệu đái máu, bệnh nhân có thể thấy đau tức âm ỉ vùng hố thận.

Điều trị ngoại khoa để cắt bỏ khối u thận và niệu quản nếu chưa có di căn.

U bàng quang: Siêu âm bàng quang và UIV sẽ phát hiện được khối u với hình ảnh ổ khuyết tại bàng quang. Chẩn đoán xác định có khối u dựa vào nội soi bàng quang và sinh thiết khối u. U bề mặt bàng quang thường hay tái phát, u xâm lấn thành bàng quang thường do di căn.

Điều trị: đối với khối u bề mặt bàng quang thường mổ nội soi hoặc cắt bỏ toàn bộ bàng quang (trong trường hợp khối u to, lan toả). Do tính chất hay tái phát của khối u này vì vậy, người bệnh nên đi theo dõi định kỳ tại bác sĩ chuyên khoa thận tiết niệu để phát hiện kịp thời u tái phát.

Đái máu do sỏi tiết niệu

Đái máu có kèm theo cơn đau quặn thận, đau bàng quang thường nghĩ đến sỏi thận tiết niệu. Biểu hiện này thường xuất hiện sau khi vận động mạnh, có thể tái phát. Trong một số trường hợp có tiểu buốt, tiểu dắt kèm theo tiểu máu và có thể có sốt gai rét. Chụp hệ tiết niệu, SÂ thận tiết niệu và UIV cho phép xác định vị trí có sỏi và vị trí của sỏi. Đối với sỏi có thành phần acid uric sẽ không có hình ảnh cản quang khi chụp phim tiết niệu.

Điều trị sỏi thận tiết niệu tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Hiện nay tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi qua da hay tán sỏi qua nội soi được áp dụng rộng rãi do ít xâm lấn, ít tai biến và hiệu quả cao. Ngoại khoa được chỉ định trong trường hợp cụ thể, nhưng thường áp dụng cho những trường hợp sỏi to, có biến chứng kèm theo.. . Để dự phòng tái phát sỏi, người bệnh nên uống đủ nước để đảm bảo số lượng nước tiểu từ 1,5 - 2 lít/ngày. Đối với sỏi acid uric nên kiềm hoá nước tiểu.

Đái máu do u tuyến tiền liệt

Nam giới trên 40 tuổi cần quan tâm đến tuyến tiền liệt. Sau khi đã loại trừ các nguyên nhân đái máu do đường tiết niệu cần làm một số xét nghiệm để tìm kiếm nguyên nhân liên quan đến tuyến tiền liệt. Chẩn đoán dựa vào việc thăm trực tràng để xác định kích thước, mật độ, ranh giới, tính chất đau, SÂ bàng quang và tuyến tiền liệt trên khớp vệ, hoặc qua trực tràng để tìm kiếm tổn thương tại tuyến tiền liệt và các vùng lân cận. Định lượng PSA máu nếu tuyến tiền liệt to hoặc nghi ngờ ung thư. Sinh thiết tuyến tiền liệt dưới hướng dẫn của SÂ qua trực tràng khi nghi ngờ adenocarcinome.

Điều trị: Tuỳ thuộc vào tình trạng cụ thể của bệnh nhân:

- Rối loạn tiểu tiện mức độ nhẹ: thuốc nội khoa.

- Khối u khu trú: mổ và tia xạ tại chỗ.

- Khối u di căn: điều trị hormon kết hợp dẫn lưu bàng quang hoặc mổ bàng quang tối thiểu trong trường hợp khối u quá to gây bí đái thường xuyên.

Đái máu do nhiễm trùng tiết niệu: thường kèm theo rối loạn tiểu tiện (đái dắt, đái buốt, đái đục..) hay gặp ở phụ nữ khi viêm bàng quang cấp. Xét nghiệm nước tiểu (tế bào và cấy vi khuẩn) giúp chẩn đoán xác định dễ dàng.

Điều trị nội khoa bằng kháng sinh theo kháng sinh đồ nếu có.

Đái máu do chấn thương

Chấn thương vùng thắt lưng: đái máu kèm theo đau tức vùng hố thận xuất hiện sau khi bị chấn thương vùng thắt lưng. SÂ hệ thận tiết niệu và hố thận có thể phát hiện các hình ảnh tụ máu thận và quanh thận. Chụp UIV hoặc CT có thuốc cản quang nếu nghi dập hoặc vỡ thận, tụ máu quanh thận, rò nước tiểu. Chụp mạch máu chọn lọc (AG) để phát hiện tắc mạch, phình tách ĐMC.

Chấn thương vùng hạ vị: có thể dẫn đến vỡ bàng quang hoặc vỡ xương chậu. Chụp bụng và tiểu khung giúp phát hiện chấn thương. Chụp UIV phát hiện rò rỉ vào ổ bụng hoặc dưới phúc mạc. Điều trị ngoại khoa cấp cứu.

Chấn thương niệu đạo: gây chảy máu niệu đạo, cần phân biệt với đái máu. Trong các trường hợp chấn thương thường dẫn đến bí tiểu nên đặt ống thông bàng quang dẫn lưu nước tiểu.

Đái máu do nguyên nhân viêm cầu thận

Đái máu do các bệnh cầu thận thường không rầm rộ, ít khi đái máu cục, thường gặp nhất là đái máu vi thể. Nếu bệnh nhân có các dấu hiệu gợi ý như: phù lan toả sau một đợt viêm họng mới, bệnh nhân có tiền sử ĐTĐ hoặc THA, có tiền sử dùng thuốc giảm đau nhiều có thể nghĩ nhiều đến đái máu do bệnh cầu thận.

Các kết quả cận lâm sàng có thể: có protein niệu, nhiều > 1g/24 giờ, có trụ niệu . Chụp UIV bình thường, nhưng chức năng thận có thể bị tổn thương. Trong những trường hợp này có thể nghĩ đến bệnh lý cầu thận. Chỉ định sinh thiết thận là cần thiết để chẩn đoán xác định.

Viêm cầu thận

Viêm cầu thận cấp: tổn thương viêm mới xuất hiện, biểu hiện thường gặp là phù và tăng cân rõ, tăng huyết áp, thiểu niệu với nước tiểu đỏ sẫm màu , protein niệu > 3g/24 giờ kèm trụ niệu và hồng cầu niệu. Thường gặp trong viêm cầu thận sau nhiễm liên cầu, chủ yếu ở trẻ em sau khi bị viêm họng 2 tuần.

Viêm cầu thận mạn: Đái máu vi thể, có trụ niệu, có protein niệu > 1g/24 giờ, có thể THA và suy thận mạn. Thường biểu hiện là HCTH. Bệnh do nhiều nguyên nhân dẫn đến như: bệnh hệ thống, bột thận, ĐTĐ…, xơ gan, ung thư, viêm nội tâm mạc, …

Viêm kẽ thận: Đái máu số lượng không nhiều, kèm theo có bạch cầu niệu, kể cả ở giai đoạn suy thận, protein niệu ở mức trung bình < 1g/24 giờ, đái nhiều, có bất thường trên các thăm dò hình thái (SÂ, UIV, CT).

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến viêm kẽ thận: VTBTM ngược dòng,viêm kẽ thận do ngộ độc thuốc, do nhiễm trùng cấp, do các bệnh chuyển hoá (tăng a.uric, tăng calci do cường cận giáp…), do hoại tử núm thận trong một số bệnh.

Đái máu do các nguyên nhân hiếm gặp: Nghẽn, tắc mạch thận (động mạch và tĩnh mạch), tắc tĩnh mạch chủ, ký sinh trùng…

Các thăm dò chuyên sâu

Đái máu thông thường xác định nguyên nhân không khó, tuy nhiên có những trường hợp rất khó xác định nguyên nhân, khi đó cần thiết phải áp dụng nhiều biện pháp phối hợp để chẩn đoán, dựa vào đó có hướng điều trị. Cũng có khi không thể tìm thấy nguyên nhân ngay ở lần đái máu đầu tiên, cần thiết phải theo dõi tiếp.

Nội soi bàng quang: tiến hành khi đang có đái máu để tìm kiếm khối u bàng quang, sỏi, ung thư tuyến tiền liệt, viêm bàng quang mạn tính, cấp tính, lạc nội mạc tử cung, rò ruột – bàng quang; Để xác định đái máu từ 1 thận hay từ 2 thận.

Chụp UPR, CT, AG, MSCT có dựng hình mạch máu thận để tìm kiếm khối u thận kích thước nhỏ hoặc dị dạng mạch máu khi đái máu từ 1 thận.

Khi có đái máu từ hai bên niệu quản ở bệnh nhân trẻ tuổi nghĩ nhiều đến bệnh Berger (bệnh cầu thận IgA). Cần sinh thiết thận để khẳng định chẩn đoán.

Khuyến cáo

Đái máu là một trong những biểu hiện lâm sàng của bệnh lý thận tiết niệu nguyên phát hoặc thứ phát của những bệnh khác. Chẩn đoán nguyên nhân gây đái máu là cần thiết để có hướng điều trị đúng và triệt để, vì vậy người bệnh không nên bỏ qua dấu hiệu đái máu hoặc tự điều trị mà cần tìm đến cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn điều trị đúng.

CNTTCBTG - BV Bạch Mai

adv-content