Aclasta

Thuốc điều trị, dự phòng loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh để làm giảm tỷ lệ gãy xương hông, gãy xương đốt sống và gãy xương không phải đốt sống và để làm tăng mật độ chất khoáng của xương.

Dung dịch tiêm truyền 5 mg/100 ml: hộp 1 chai 100 ml

Thành phần

Cho 100 ml Zoledronic acid           5 mg

Dược lực

Loãng xương

Việc điều trị bằng Aclasta làm giảm nhanh tốc độ luân chuyển xương từ các mức tăng cao sau mãn kinh, với điểm thấp nhất chỉ thị sự tiêu xương quan sát được sau 7 ngày, và chỉ thị sự tạo xương quan sát được sau 12 tuần. Sau đó các chất chỉ thị về xương ổn định trong mức như trước khi mãn kinh. Không có sự giảm liên tục chất chỉ thị sự luân chuyển xương khi tiêm liều lặp lại hàng năm.

Trong các nghiên cứu dài ngày trên động vật, acid zoledronic ức chế sự tiêu xương mà không tác dụng ngược lên sự tạo xương, sự khoáng hóa hoặc các tính chất cơ học của xương. Các dữ liệu về đo hình thái mô khi thử nghiệm dài ngày trên chuột cống và khỉ cho thấy đáp ứng điển hình của xương với thuốc chống tiêu xương qua sự giảm hoạt tính của hủy cốt bào phụ thuộc liều dùng và tần suất hoạt hóa các vị trí tu sửa mới bộ xương ở cả xương bó và xương Havers. Đã quan sát thấy có sự tiếp tục tu sửa bộ xương ở các mẫu xương của tất cả động vật được điều trị với liều acid zoledronic với liều dùng trong lâm sàng. Chưa thấy bằng chứng về giảm khoáng hóa xương, sai lạc về tích lũy dạng xương và chưa thấy dạng xương kết dính ở các động vật dùng thuốc.

Dược lý lâm sàng

Những đối tượng đặc biệt

Độ thanh thải qua thận của acid zoledronic có tương quan với độ thanh thải creatinine, độ thanh thải qua thận tương ứng với 75 ± 33% độ thanh thải creatinine, cho thấy mức thanh thải trung bình là 84 ± 29 mL/phút

Hiệu quả lâm sàng trong điều trị loãng xương sau mãn kinh

Hiệu quả và độ an toàn của Aclasta đã được chứng minh trong nghiên cứu ở nhiều quốc gia, ngẫu nhiên, mù đôi có kiểm chứng với giả dược ở 7736 phụ nữ 65-89 tuổi có chỉ số mật độ khoáng của xương (BMD-T) của cổ xương đùi ≤ -1,5 và có ít nhất hai lần gãy đốt sống nhẹ hoặc một lần gãy đốt sống trung bình; hoặc chỉ số BMD-T của cổ xương đùi ≤ -2,5 có hoặc không có dấu hiệu về gãy đốt sống hiện có. Aclasta được dùng 1 lần mỗi năm trong 3 năm liên tiếp dưới dạng 1 liều đơn 5 mg trong 100 mL dung dịch được truyền ít nhất trong 15 phút đối với tổng liều gồm 3 liều. Tác dụng trên gãy đốt sống

Aclasta làm giảm đáng kể nguy cơ gãy mới hoặc gãy nặng hơn một hoặc nhiều đốt sống ở thời điểm 1 năm (58%), 2 năm (68%) và 3 năm (67%) (tất cả p < 0,0001). Aclasta làm giảm đáng kể nguy cơ của ít nhất một gãy mới đốt sống trung bình hoặc nặng vào thời điểm 1 năm (60%), 2 năm (71%) và 3 năm (70%) (tất cả p < 0,0001).

Sự giảm gãy đốt sống sau 3 năm hằng định và cao hơn đáng kể so với giả dược bất kể tuổi, vùng địa lý, dân tộc, chỉ số khối cơ thể cơ bản, số trường hợp gãy đốt sống ở mức cơ bản, chỉ số mật độ khoáng của xương (BMD-T) của cổ xương đùi hoặc sử dụng bisphosphonate trước đó. Đặc biệt đối với những bệnh nhân từ 75 tuổi trở lên, bệnh nhân dùng Aclasta giảm 61% nguy cơ gãy đốt sống so với bệnh nhân dùng giả dược (p < 0,0001).

Tác dụng trên gãy xương hông

Aclasta đã chứng tỏ làm giảm 40% nguy cơ gãy xương hông sau 3 năm. Tỷ lệ biến cố gãy xương hông là 1,45% ở bệnh nhân được điều trị bằng Aclasta so với 2,50% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược.

Tỷ lệ giảm gãy xương hông sau 3 năm cao hơn so với giả dược bất kể tuổi, vùng địa lý, dân tộc, chỉ số khối cơ thể cơ bản, số trường hợp gãy đốt xương sống ở mức cơ bản, hoặc chỉ số BMD-T của cổ xương đùi.

Tác dụng trên tất cả gãy xương lâm sàng

Aclasta đã chứng tỏ trội hơn giả dược trong việc làm giảm tỷ lệ tất cả gãy xương lâm sàng, gãy đốt sống lâm sàng và gãy xương lâm sàng không phải đốt sống. Tất cả gãy xương lâm sàng đã được xác minh dựa vào chứng cớ về X-quang và/hoặc lâm sàng.

Aclasta làm tăng đáng kể mật độ chất khoáng của xương ở xương sống thắt lưng, xương hông và đầu xa xương quay so với điều trị bằng giả dược ở tất cả thời điểm nghiên cứu (6 tháng, 12 tháng, 24 tháng và 36 tháng). Điều trị bằng Aclasta dẫn đến tăng 6,9% mật độ chất khoáng của xương ở xương sống thắt lưng, 6% ở toàn bộ xương hông, 5% ở cổ xương đùi và 3,2% ở đầu xa xương quay sau 3 năm so với điều trị bằng giả dược.

Tác dụng trên chiều cao

Trong một nghiên cứu 3 năm về loãng xương, chiều cao được đo hàng năm sử dụng thước đo chiều cao. Nhóm dùng Aclasta cho thấy ít giảm chiều cao hơn so với nhóm dùng giả dược (4,2 mm ở nhóm dùng Aclasta so với 6,7 mm ở nhóm dùng giả dược, p < 0,0001).

Số ngày mất chức năng

Aclasta làm giảm đáng kể số ngày bị hạn chế hoạt động và số ngày bất động tại giường do gãy xương so với giả dược (tất cả p < 0,01).

Hiệu quả lâm sàng trong việc phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông

Tác dụng trên tất cả gãy xương lâm sàng

Trong thử nghiệm HORIZON-RFT, việc điều trị bằng Aclasta làm giảm đáng kể tỷ lệ của bất kỳ gãy xương lâm sàng nào là 35%. Khi dùng Aclasta cũng còn giảm 46% nguy cơ gãy đốt sống lâm sàng, giảm 27% nguy cơ gãy xương không phải đốt sống. Đã quan sát thấy giảm 30% nguy cơ bị gãy xương hông sau đó đối với nhóm dùng Aclasta, không có ý nghĩa thống kê.

Điều trị loãng xương ở nam giới

Tính an toàn và hiệu quả của Aclasta ở nam giới bị loãng xương hoặc bị loãng xương thứ phát do suy giảm chức năng tuyến sinh dục. Hiệu quả đã được chứng minh khi Aclasta không cho thấy có sự thấp hơn alendronate về sự thay đổi tỷ lệ phần trăm mật độ khoáng của xương sống thắt lưng trong 24 tháng so với khi bắt đầu nghiên cứu.

Điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid

Tính an toàn và hiệu quả của Aclasta trong điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid. Hiệu quả đã được chứng minh khi risedronate cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ phần trăm thay đổi mật độ khoáng của xương sống thắt lưng trong 12 tháng so với khi bắt đầu nghiên cứu lần lượt ở nhóm điều trị và phòng ngừa bệnh.

Bệnh Paget xương

Bệnh Paget xương là một bệnh về xương mạn tính, cục bộ được đặc trưng bởi sự tăng mạnh và phục hồi bộ xương một cách rối loạn. Sự tiêu xương do hủy cốt bào quá mức kèm theo sự tạo xương mới bất thường do hủy cốt bào, dẫn đến thay thế cấu trúc xương bình thường bằng một cấu trúc xương mất trật tự, phì đại và yếu. Biểu hiện lâm sàng của bệnh Paget ở mức từ không có triệu chứng đến tình trạng bệnh trầm trọng do đau xương, biến dạng xương, gãy xương bệnh lý và các biến chứng thần kinh cùng các biến chứng khác. Phosphatase kiềm trong huyết thanh là chỉ số sinh hóa về hoạt tính của bệnh thường được sử dụng nhất đem lại sự đánh giá khách quan về độ nặng của bệnh và đáp ứng đối với điều trị.

Trong hai thử nghiệm lâm sàng 6 tháng so sánh ngẫu nhiên, được kiểm chứng tốt trên những bệnh nhân bị bệnh Paget, Aclasta đã chứng tỏ đáp ứng trội hơn và nhanh hơn so với risedronate. Ngoài ra, các chất chỉ điểm sinh hóa về sự tạo xương và sự tiêu xương đã chứng tỏ có sự bình thường hóa sự luân chuyển xương ở nhiều bệnh nhân được điều trị bằng Aclasta so với bệnh nhân được điều trị bằng risedronate (xem phần Dược lực).

Hiệu quả lâm sàng đối với điều trị bệnh Paget xương

Aclasta đã được nghiên cứu ở các bệnh nhân nam và nữ trên 30 tuổi bị bệnh Paget xương nguyên phát ở mức từ nhẹ đến trung bình (nồng độ phosphatase kiềm trong huyết thanh trung bình gấp 2,6-3 lần giới hạn trên của mức tham khảo bình thường đặc hiệu theo tuổi vào thời điểm bắt đầu nghiên cứu), được xác định bằng biểu hiện về chụp X-quang.

Hiệu quả của 1 lần truyền 5 mg acid zoledronic so với liều risedronate 30 mg/ngày trong 2 tháng đã được chứng minh trong 2 thử nghiệm so sánh trong 6 tháng. Đáp ứng điều trị được định nghĩa là sự bình thường hóa phosphatase kiềm trong huyết thanh (SAP), hoặc là giảm ít nhất 75% so với mức cơ bản về sự tăng quá mức tổng phosphatase kiềm trong huyết thanh vào cuối 6 tháng. Sự tăng quá mức phosphatase kiềm trong huyết thanh được định nghĩa là sự khác biệt giữa nồng độ đo được với điểm giữa của mức bình thường.

Những bệnh nhân được xếp loại là người có đáp ứng vào cuối của nghiên cứu then chốt trong 6 tháng thì đủ tiêu chuẩn để đưa vào thời kỳ theo dõi kéo dài.

Những nghiên cứu về độ an toàn với xương

Sự đáp ứng với liều dùng và thời gian tác dụng khi tiêm tĩnh mạch 1 liều đơn acid zoledronic (0,8-500 microgam/kg) đã được nghiên cứu trên chuột cống trưởng thành đã cắt bỏ buồng trứng trong 8 tháng sau khi dùng liều trên, tương ứng với khoảng 8 chu kỳ tu sửa trong 2,7 năm ở người. Một liều đơn acid zoledronic đã bảo vệ chống lại sự mất xương do cắt buồng trứng; cả mức độ và thời gian tác dụng đều phụ thuộc liều dùng. Hai liều cao nhất là 100 microgam/kg và 500 microgam/kg đã làm tăng đáng kể mật độ xương, thể tích xương bó, số lượng xương bó và mật độ liên kết đến các mức cao hơn so với các mức ở nhóm chứng dùng giả dược. Những liều thấp hơn đã tạo ra tác dụng yếu hơn và ít kéo dài hơn. Thử nghiệm cơ học khi kết thúc cuộc nghiên cứu với liều cao hơn đã cho thấy sự tăng phụ thuộc liều về độ bền của xương đến các trị số cao hơn so với các trị số ở nhóm chứng dùng giả dược. Phân tích đo mô hình thái và đo nồng độ osteocalcin trong huyết tương đã xác định là sự tạo xương đã xuất hiện sau khi tiêm thuốc 32 tuần ngay cả khi dùng liều cao nhất 500 microgam/kg. Liều này ở chuột cống gấp khoảng 3,4 lần so với liều 5 mg dùng cho một bệnh nhân nặng 50 kg. Các kết quả tương tự cho thấy có sự cải thiện phụ thuộc liều về khối lượng xương và độ bền của xương khi tiêm dưới da acid zoledronic hàng tuần cho chuột cống đã cắt bỏ buồng trứng (0,3-7,5 microgam/kg trong 52 tuần) và khỉ đã cắt bỏ buồng trứng (0,5-12,5 microgam/kg trong 69 tuần). Nói chung, các kết quả này cung cấp chứng cứ tiền lâm sàng về hiệu quả và độ an toàn của xương khi dùng acid zoledronic với các liều thích hợp trên lâm sàng.

Cơ chế tác dụng

Acid zoledronic thuộc nhóm các bisphosphonate chứa nitơ và tác động chủ yếu trên xương. Nó là chất ức chế sự tiêu xương qua trung gian của hủy cốt bào.

Tác dụng có chọn lọc của bisphosphonate trên xương dựa vào ái lực cao của nhóm thuốc này đối với chất khoáng của xương. Acid zoledronic dùng đường tĩnh mạch được phân bố nhanh vào xương và cũng như các bisphosphonate khác, khu trú trước hết vào các vị trí có sự luân chuyển xương cao. Đích phân tử chính của acid zoledronic trong hủy cốt bào là enzyme farmesyl pyrophosphat synthetase, nhưng không loại trừ các cơ chế khác. Thời gian tác động tương đối dài của acid zoledronic có thể quy cho là do ái lực cao của chất này đối với vị trí hoạt động của farnesyl pyrophosphat (FPP) synthase và ái lực gắn kết mạnh của nó với chất khoáng của xương.

Dược động học

Sau khi khởi đầu truyền acid zoledronic, nồng độ của hoạt chất này trong huyết tương tăng nhanh, đạt nồng độ đỉnh khi kết thúc thời gian truyền, tiếp theo là giảm nhanh xuống < 10% nồng độ đỉnh sau 4 giờ và < 1% nồng độ đỉnh sau 24 giờ, sau đó là thời kỳ kéo dài với các nồng độ rất thấp không quá 0,1% nồng độ đỉnh.

Khi truyền tĩnh mạch, acid zoledronic được đào thải theo quá trình 3 pha: biến mất khỏi tuần hoàn toàn thân nhờ quá trình 2 pha nhanh, với thời gian bán thải t1/2 alpha là 0,24 giờ và t1/2 beta là 1,87 giờ, tiếp theo là pha đào thải kéo dài với thời gian bán thải cuối t1/2 gamma là 146 giờ. Không có sự tích lũy hoạt chất này trong huyết tương sau khi tiêm nhiều liều mỗi 28 ngày. Các pha đầu tiên (alpha và beta, với các trị số t1/2 ở trên) có thể biểu thị sự thu nhận nhanh vào xương và bài tiết qua thận.

Acid zoledronic không được chuyển hóa trong cơ thể và đào thải dưới dạng không đổi qua thận.

Chưa có nghiên cứu được tiến hành về tương thuốc đặc hiệu với acid zoledronic. Vì acid zoledronic không được chuyển hóa ở người và chất này được biết là có ít hoặc không có khả năng là chất ức chế các enzyme P450 tác dụng trực tiếp và/hoặc phụ thuộc vào sự chuyển hóa không thuận nghịch, không chắc là acid zoledronic làm giảm độ thanh thải chuyển hóa của các chất được chuyển hóa qua hệ enzyme cytochrom P450. Acid zoledronic không gắn kết mạnh với protein huyết tương (gắn khoảng 43-55%) và sự gắn kết này không phụ thuộc vào nồng độ. Vì vậy, không chắc có tương tác do chiếm chỗ các thuốc gắn mạnh với protein huyết tương.

Khả năng gây đột biến và gây ung thư

Acid zoledronic không gây đột biến trong các thử nghiệm gây đột biến và các thử nghiệm gây ung thư không cho thấy chứng cứ về khả năng gây ung thư.

Chỉ định

- Điều trị loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh để làm giảm tỷ lệ gãy xương hông, gãy xương đốt sống và gãy xương không phải đốt sống và để làm tăng mật độ chất khoáng của xương.

- Phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông ở nam giới và phụ nữ.

- Điều trị loãng xương ở nam giới

- Điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid

- Điều trị bệnh Paget xương.

Chống chỉ định

- Hạ calci máu (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

- Phụ nữ có thai và cho con bú (xem phần Lúc có thai và lúc nuôi con bú).

- Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ thành phần nào của tá dược hoặc với mọi bisphosphonate.

Liều lượng và cách dùng

Chung

Tỷ lệ các triệu chứng sau khi điều trị Aclasta xảy ra trong vòng 3 ngày đầu có thể giảm đi khi sử dụng paracetamol hoặc ibuprofen sớm sau khi dùng Aclasta.

Bệnh nhân phải được bù nước thích hợp trước khi dùng Aclasta. Điều này đặc biệt quan trọng ở người cao tuổi và đối với những bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

Điều trị loãng xương sau mãn kinh

Để điều trị loãng xương sau mãn kinh, liều khuyến cáo là truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong 1 năm.

Bổ sung đầy đủ calci và vitamin D là điều quan trọng đối với phụ nữ bị loãng xương nếu sự thu nhận qua chế độ ăn không đầy đủ (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

Phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông

Để phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông do chấn thương nhẹ, liều khuyến cáo là truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong 1 năm.

Đối với những bệnh nhân mới bị gãy xương hông do chấn thương nhẹ, khuyến cáo dùng liều tấn công 50.000 đến 125.000 IU vitamin D đường uống hoặc tiêm bắp trước khi truyền dung dịch Aclasta lần đàu tiên.

Khuyến cáo bổ sung calci và vitamin D cho bệnh nhân được điều trị để phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông do chấn thương nhẹ (xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).

Điều trị loãng xương ở nam giới

Để điều trị loãng xương ở nam giới, liều khuyến cáo truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong năm.

Bổ sung đầy đủ calci và vitamin D là điều quan trọng đối với nam giới bị loãng xương nếu sự thu nhận qua chế độ ăn không đầy đủ (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

Điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid

Để điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid, liều khuyến cáo truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong năm.

Bổ sung đầy đủ calci và vitamin D là điều quan trọng đối với những bệnh nhân bị loãng xương nếu sự thu nhận qua chế độ ăn không đầy đủ.

Điều trị bệnh Paget xương

Để điều trị bệnh Paget, Aclasta chỉ nên được kê đơn bởi các bác sĩ có kinh nghiệm trong việc điều trị bệnh Paget xương. Liều khuyến cáo là truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta.

Điều trị lại bệnh Paget: Chưa có dữ liệu đặc hiệu về việc điều trị lại. Sau khi điều trị bệnh Paget bằng 1 liều đơn Aclasta, đã quan sát thấy giai đoạn thuyên giảm kéo dài ở những bệnh nhân đáp ứng (xem phần Các đặc tính dược lực học). Tuy nhiên, có thể xem xét điều trị lại bằng Aclasta ở bệnh nhân bị tái phát, dựa trên sự tăng phosphatase kiềm trong huyết thanh, ở bệnh nhân không đạt được sự bình thường hóa phosphatase kiềm trong huyết thanh, hoặc ở bệnh nhân có các triệu chứng như đã được ghi nhận trong thực tiễn y khoa 12 tháng sau khi dùng liều khởi đầu.

Ở bệnh nhân bị bệnh Paget, khuyến cáo bổ sung vitamin D đầy đủ khi dùng Aclasta. Ngoài ra, đặc biệt khuyến cáo bệnh nhân bị bệnh Paget phải bảo đảm bổ sung đầy đủ lượng calci tương ứng với ít nhất 500 mg calci nguyên tố, 2 lần/ngày ít nhất trong 10 ngày sau khi dùng Aclasta (xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).

Các nhóm bệnh nhân đặc biệt

Bệnh nhân suy thận

Không khuyến cáo dùng Aclasta cho bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinine < 35 mL/phút do chưa có đủ các dữ liệu về độ an toàn trên lâm sàng ở những bệnh nhân này (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinine ≥ 35 mL/phút.

Bệnh nhân suy gan

Không cần điều chỉnh liều (xem phần Dược động học).

Người cao tuổi (≥ 65 tuổi)

Không cần điều chỉnh liều vì sinh khả dụng, sự phân bố và thải trừ giống nhau giữa bệnh nhân cao tuổi và người trẻ tuổi.

Trẻ em và thiếu niên

Không khuyến cáo dùng Aclasta cho trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi do thiếu dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả.

Cách dùng

Aclasta (5 mg trong 100 mL có sẵn cho dung dịch truyền) được dùng đường tĩnh mạch qua một dây truyền mở lỗ thông với tốc độ truyền hằng định. Thời gian truyền không được dưới 15 phút.

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG VÀ THAO TÁC

Không được pha trộn Aclasta hoặc dùng đường tĩnh mạch với bất kỳ thuốc nào khác và phải truyền thuốc qua một dây truyền riêng có mở lỗ thông với tốc độ truyền không đổi. Nếu giữ ở tủ lạnh, cần để dung dịch lạnh trở về nhiệt độ phòng trước khi dùng. Phải tuân thủ các kỹ thuật vô khuẩn trong suốt thời gian chuẩn bị truyền.

Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng

Thuốc này chỉ dùng theo sự kê đơn của bác sĩ.

Thận trọng chung

Liều acid zoledronic 5 mg phải được truyền trong thời gian ít nhất 15 phút.

Aclasta có cùng hoạt chất với Zometa (acid zoledronic) thường dùng trong các chỉ định về ung thư, bệnh nhân đang điều trị bằng Zometa không được dùng Aclasta.

Bệnh nhân phải được bù nước thích hợp trước khi dùng Aclasta. Điều này đặc biệt quan trọng ở người cao tuổi và đối với bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu.

Phải điều trị hạ calci máu có từ trước bằng cách bổ sung đầy đủ calci và vitamin D trước khi bắt đầu điều trị bằng Aclasta (xem phần Chống chỉ định). Các rối loạn khác về chuyển hóa chất khoáng cũng phải được điều trị hữu hiệu (ví dụ giảm dự trữ hormone tuyến cận giáp, kém hấp thu calci ở ruột). Thầy thuốc cần cân nhắc để theo dõi lâm sàng những bệnh nhân này.

Suy thận

Đã quan sát thấy suy thận sau khi sử dụng Aclasta (xem phần Tác dụng ngoại ý, các báo cáo hậu mãi tự phát), đặc biệt ở những bệnh nhân bị tổn thương thận trước đó hoặc có các yếu tố nguy cơ khác bao gồm người cao tuổi, sử dụng đồng thời các thuốc gây độc cho thận, các thuốc lợi tiểu (xem phần Tương tác thuốc), hoặc mất nước xảy ra sau khi sử dụng Aclasta. Suy thận đã được ghi nhận ở những bệnh nhân sau khi dùng liều duy nhất. Suy thận cần phải thẩm tách máu hoặc gây tử vong hiếm khi xảy ra ở những bệnh nhân đang bị suy yếu chức năng thận hoặc có bất cứ nguy cơ nào như được mô tả phía trên.

Cần lưu ý đến những thận trọng sau đây để làm giảm thiểu nguy cơ các phản ứng phụ xảy ra cho thận:

- Không sử dụng Aclasta cho những bệnh nhân suy thận nặng (hệ số thanh thải creatinine < 35 mL/phút) do chưa có đủ các dữ liệu an toàn trên lâm sàng ở những bệnh nhân này (xem phần Dược động học).

- Cần thận trọng khi sử dụng đồng thời Aclasta với các thuốc khác ảnh hưởng đến chức năng thận (xem phần Tương tác thuốc).

- Cần tính toán độ thanh thải creatinin (ví dụ như theo công thức Cockcroft-Gault) trước mỗi lần dùng thuốc Aclasta. Tăng thoáng qua lượng creatinin huyết thanh có thể cao hơn ở những bệnh nhân đang bị suy chức năng thận, cần xem xét theo dõi tạm thời lượng creatinin huyết thanh ở những bệnh nhân có nguy cơ.

- Các bệnh nhân, đặc biệt đối với người già và những bệnh nhân đang điều trị với thuốc lợi tiểu, nên được truyền nước thích hợp trước khi dùng Aclasta.

- Một liều đơn Aclasta không nên vượt quá 5 mg và thời gian truyền thuốc không dưới 15 phút (xem phần Liều lượng và Cách dùng).

Bổ sung calci và vitamin D

Điều trị loãng xương

Bổ sung đầy đủ calci và vitamin D là điều quan trọng đối với nam giới và phụ nữ bị loãng xương nếu sự thu nhận qua chế độ ăn không đầy đủ.

Phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông

Khuyến cáo bổ sung calci và vitamin D cho bệnh nhân được điều trị để phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông.

Điều trị bệnh Paget xương

Tăng sự luân chuyển xương là đặc điểm của bệnh Paget xương. Do acid zoledronic có khởi phát tác dụng nhanh trên sự luân chuyển xương, có thể có hạ calci máu thoáng qua, đôi khi có triệu chứng và thường tối đa trong vòng 10 ngày đầu sau khi truyền Aclasta (xem phần Tác dụng ngoại ý). Khuyến cáo bổ sung vitamin D đầy đủ khi dùng Aclasta. Ngoài ra, đặc biệt khuyến cáo bệnh nhân bị bệnh Paget phải bảo đảm bổ sung đầy đủ lượng calci tương ứng với ít nhất 500 mg calci nguyên tố, 2 lần/ngày ít nhất trong 10 ngày sau khi dùng Aclasta. Bệnh nhân phải được thông báo về các triệu chứng hạ calci máu. Thầy thuốc cần xem xét theo dõi lâm sàng những bệnh nhân có nguy cơ.

Đau cơ xương

Thỉnh thoảng đã có báo cáo về đau xương, khớp và/hoặc cơ dữ dội và đôi khi mất chức năng ở bệnh nhân dùng bisphosphonate, bao gồm cả Aclasta.

Hoại tử xương hàm

Hoại tử xương hàm (ONJ): Đã có báo cáo về hoại tử xương hàm, chủ yếu ở bệnh nhân ung thư được điều trị bằng bisphosphonate, bao gồm cả acid zoledronic. Nhiều bệnh nhân trong số này đang dùng hóa liệu pháp và corticosteroid. Đa số các trường hợp được báo cáo có liên quan với các thủ thuật về răng như nhổ răng. Nhiều bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm khuẩn tại chỗ bao gồm cả viêm xương tủy. Cần xem xét khám răng với nha khoa dự phòng thích hợp trước khi điều trị bằng bisphosphonate ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ kèm theo (ví dụ ung thư, hóa liệu pháp, corticosteroid, vệ sinh miệng kém). Trong khi điều trị, những bệnh nhân này nên tránh các thủ thuật mạnh về răng nếu có thể được. Đối với bệnh nhân phát sinh hoại tử xương hàm trong khi điều trị bằng bisphosphonate, phẫu thuật răng có thể làm nặng thêm tình trạng này. Đối với bệnh nhân cần các thủ thuật về răng, chưa có dữ liệu cho thấy có phải việc ngưng điều trị bisphosphonate làm giảm nguy cơ hoại tử xương hàm hay không. Khi đánh giá việc điều trị trên lâm sàng, thầy thuốc nên hướng dẫn kế hoạch quản lý từng bệnh nhân dựa trên sự đánh giá lợi ích so với nguy cơ trên từng cá thể.

Lúc có thai và lúc nuôi con bú

Phụ nữ có thai

Chưa có dữ liệu về việc sử dụng acid zoledronic ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy có độc tính trên sự sinh sản (xem phần An toàn tiền lâm sàng). Chưa rõ nguy cơ có thể có đối với người.

Cho con bú

Chống chỉ định dùng Aclasta trong khi mang thai và ở phụ nữ cho con bú (xem phần Chống chỉ định).

Tương tác thuốc

Chưa có nghiên cứu được tiến hành về tương tác thuốc đặc hiệu với acid zoledronic. Acid zoledronic không được chuyển hóa toàn thân và không ảnh hưởng đến các enzyme cytochrome P450 ở người in vitro (xem phần Dược động học). Acid zoledronic không gắn mạnh với protein huyết tương (gắn khoảng 43-55%) và vì vậy không chắc có tương tác do chiếm chỗ các thuốc gắn mạnh với protein huyết tương. Acid zoledronic được thải trừ qua sự bài tiết ở thận.

Những thuốc có ảnh hưởng đến chức năng thận

Cần thận trọng khi dùng phối hợp Aclasta với các thuốc có ảnh hưởng đáng kể đến chức năng thận (ví dụ các aminoglycoside hoặc các thuốc lợi tiểu có thể gây mất nước)

Những thuốc được bài tiết chủ yếu qua thận

Ở những bệnh nhân suy thận, có thể gia tăng ảnh hưởng toàn thân đối với các thuốc dùng phối hợp được bài tiết chủ yếu qua thận.

Tác dụng ngoại ý

Tóm tắt các dữ liệu về độ an toàn

Các phản ứng phụ được trình bày trong phần này xuất phát từ các nghiên cứu khác nhau trong chương trình lâm sàng.

Điều trị loãng xương sau mãn kinh, loãng xương ở nam giới, phòng ngừa gãy xương trên lâm sàng sau gãy xương hông do chấn thương nhẹ, điều trị và phòng ngừa loãng xương do sử dụng glucocorticoid và bệnh Paget xương

Trong các nghiên cứu để chứng minh các chỉ định điều trị loãng xương ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh, phòng ngừa gãy xương trên lâm sàng sau gãy xương hông do chấn thương nhẹ, điều trị và phòng ngừa loãng xương do sử dụng glucocorticoid và bệnh Paget xương, không có sự khác biệt đáng kể nào về tỷ lệ chung mắc phải các phản ứng phụ nghiêm trọng so với giả dược hoặc thuốc so sánh và hầu hết các phản ứng phụ từ nhẹ đến trung bình. Aclasta được chỉ định dùng một lần trong năm trong tất cả các nghiên cứu đã được đề cập ở trên.

Cũng như các bisphosphonate dùng đường tĩnh mạch, Aclasta thường liên quan nhiều nhất với các triệu chứng sau đây sau khi dùng thuốc (các tần số được rút ra từ các nghiên cứu trong điều trị loãng xương sau mãn kinh: sốt (18,1%), đau cơ (9,4%), triệu chứng giống cúm (7,8%), đau khớp (6,8%) và nhức đầu (6,5%), đa số triệu chứng này xảy ra trong vòng 3 ngày đầu sau khi sử dụng Aclasta. Đa số các triệu chứng này về bản chất từ nhẹ đến trung bình và qua khỏi trong vòng 3 ngày khởi phát triệu chứng. Tỷ lệ các triệu chứng này giảm rõ rệt khi dùng Aclasta liều kế tiếp.

Tỷ lệ các triệu chứng sau khi dùng thuốc xảy ra trong vòng 3 ngày đầu sau khi dùng Aclasta có thể giảm khoảng 50% khi dùng paracetamol hoặc ibuprofen sớm sau khi dùng Aclasta.

Các phản ứng phụ được báo cáo thường xuyên hơn trong các nghiên cứu đơn lẻ gồm có: Rất hay gặp: đau cơ, đau khớp, mệt mỏi, đau. Hay gặp: ngủ lịm, khó thở, ăn không tiêu, viêm thực quản, đau bụng, tăng tiết mồ hôi, cứng cơ xương, sưng khớp, đau cơ xương ngực, cứng khớp, biếng ăn, khát, phản ứng từng cơn cấp tính. Ít gặp: viêm màng bồ đào.

Các phản ứng phụ thêm vào được báo cáo trong các nghiên cứu đơn lẻ không bao gồm trong Bảng 1 (do có tần suất thấp hơn ở nhóm dùng Aclasta so với ở nhóm giả dược từ các dữ liệu gộp lại) bao gồm: xung huyết mắt, tăng protein phản ứng C, hạ calci máu, loạn vị giác, đau răng, viêm dạ dày, hồi hộp, phản ứng tại nơi truyền thuốc.

Sự mất cân bằng quan sát thấy trong thử nghiệm này chưa được quan sát thấy trong các thử nghiệm lâm sàng khác với acid zoledronic.

Các tác dụng xếp theo nhóm

Suy thận

Điều trị bằng các bisphosphonate đường tĩnh mạch, bao gồm cả acid zoledronic có liên quan với rối loạn chức năng thận, biểu hiện dưới dạng hủy hoại chức năng thận (tức là creatinine huyết thanh tăng) và trong trường hợp hiếm gặp có suy thận cấp. Rối loạn chức năng thận đã quan sát thấy sau khi dùng acid zoledronic, đặc biệt ở bệnh nhân bị suy yếu thận từ trước hoặc có thêm các yếu tố nguy cơ (ví dụ như người cao tuổi, bệnh nhân ung thư dùng hóa liệu pháp, thuốc dùng phối hợp có độc tính với thận, mất nước trầm trọng), đa số bệnh nhân được dùng 1 liều 4 mg mỗi 3-4 tuần, nhưng rối loạn chức năng thận cũng quan sát thấy ở bệnh nhân sau khi dùng 1 liều đơn.

Phản ứng tại chỗ

Trong thử nghiệm điều trị loãng xương ở nam giới, tỷ lệ gặp phải biến cố là 2,6% ở nhóm điều trị acid zoledronic và 1,4% ở nhóm điều trị alendronate.

Trong thử nghiệm điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid, không có phản ứng tại chỗ nào được báo cáo.

Hoại tử xương hàm

Các trường hợp hoại tử xương (chủ yếu là xương hàm) đã được báo cáo chủ yếu ở bệnh nhân ung thư được điều trị bằng bisphosphonate, bao gồm cả acid zoledronic (ít gặp). Nhiều bệnh nhân trong số này có dấu hiệu nhiễm khuẩn tại chỗ bao gồm cả viêm xương tủy, và đa số báo cáo đề cập đến bệnh nhân ung thư sau khi nhổ răng hoặc các phẫu thuật khác về răng. Hoại tử xương hàm có nhiều yếu tố nguy cơ đã được biết rõ bao gồm có chẩn đoán về ung thư, điều trị đồng thời (ví dụ hóa liệu pháp, liệu pháp phóng xạ, corticosteroid) và tình trạng bệnh phối hợp (ví dụ thiếu máu, bệnh đông máu, nhiễm khuẩn, bệnh về răng có từ trước). Mặc dù chưa có xác định quan hệ nhân quả, cần thận trọng tránh phẫu thuật răng vì sự hồi phục có thể bị kéo dài (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

Các phản ứng phụ từ các báo cáo hậu mãi tự phát

Các phản ứng phụ sau đây đã được báo cáo trong suốt thời gian hậu mãi sử dụng Aclasta. Bởi vì các báo cáo này xuất phát từ một nhóm đối tượng không biết rõ cỡ mẫu và khó tránh khỏi các yếu tố gây xáo trộn, không thể dự đoán chắc chắn tần số hoặc không thể thiết lập mối quan hệ nhân quả đối với sự phơi nhiễm của thuốc.

Các phản ứng quá mẫn bao gồm những trường hợp hiếm gặp như co thắt phế quản, mày đay và phù mạch, và rất hiếm gặp như phản ứng/sốc phản vệ đã được báo cáo.

Đã có báo cáo về những trường hợp hiếm gặp như suy thận kể cả suy thận cần phải thẩm tách máu hoặc gây tử vong, đặc biệt ở những bệnh nhân bị bệnh thận trước đó hoặc có các yếu tố nguy cơ khác như người cao tuổi, sử dụng phối hợp với các thuốc gây độc thận, thuốc lợi tiểu, hoặc mất nước trong khoảng thời gian sau khi truyền thuốc.

Trong các trường hợp rất hiếm, các phản ứng sau đây đã được báo cáo: mất nước xảy ra theo sau các triệu chứng như là sốt, nôn và tiêu chảy sau khi dùng thuốc; hạ huyết áp ở những bệnh nhân đang có các yếu tố nguy cơ; hoại tử xương hàm, viêm củng mạc mắt và viêm mắt.

Khuyên bệnh nhân thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

Tương kỵ

Dung dịch truyền Aclasta không được cho phép tiếp xúc với bất kỳ dung dịch nào chứa calci hoặc cation hóa trị II.

Quá liều

Kinh nghiệm về quá liều cấp tính trên lâm sàng còn hạn chế. Những bệnh nhân được cho dùng liều cao hơn liều được khuyến cáo cần được theo dõi cẩn thận. Trong trường hợp quá liều dẫn đến hạ calci máu có ý nghĩa lâm sàng, có thể phục hồi được bằng cách bổ sung calci uống hoặc/và truyền calci gluconate.

Bảo quản

Chai chưa mở: Không bảo quản trên 30oC.

Sau khi mở, dung dịch ổn định về lý hóa ít nhất trong 24 giờ ở 2-8oC.

Theo quan điểm vi sinh học, cần dùng thuốc ngay lập tức. Nếu không dùng ngay thì thời gian bảo quản khi đang sử dụng và tình trạng trước khi sử dụng là trách nhiệm của người dùng thuốc và thông thường thì không nên để quá 24 giờ ở 2-8oC.

Hãng xản xuất: Novartis Pharma

adv-content
Các bài viết liên quan