ads-banner
ads-vip

Những băn khoăn của gia đình có con mắc bệnh lõm ngực bẩn sinh

Bệnh lõm ngực bẩm sinh là một loại bệnh gây biến dạng lồng ngực bẩm sinh. Lồng ngực bị lõm vào trong ở phía trước. Xương ức bị ảnh hưởng nhiều nhất, không còn ở vị trí bình thường mà một phần thường là phía dưới mũi ức bị lõm xuống.

ads-top-content

Bệnh lõm ngực bẩm sinh là một loại bệnh gây biến dạng lồng ngực bẩm sinh. Lồng ngực bị lõm vào trong ở phía trước. Xương ức bị ảnh hưởng nhiều nhất, không còn ở vị trí bình thường mà một phần thường là phía dưới mũi ức bị lõm xuống.

Bệnh lõm ngực bẩm sinh có tỉ lệ mắc bệnh không cao nhưng là một bệnh có tỉ lệ biến chứng cao. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh lõm ngực bẩm sinh không chỉ gây biến dạng về mặt thẩm mỹ mà còn gây nhiều hệ lụy đến sức khỏe và sự phát triển.

Cơ chế gây bệnh?

Bệnh lõm ngực bẩm sinh là một bệnh thuộc dạng dị tật xuất hiện từ bào thai. Sinh ra đứa trẻ đã mang sẵn nguyên nhân gây bệnh. Cơ chế bệnh sinh là do tăng sản quá mức các sụn sườn, xương ức trong quá trình phát triển của trẻ đẩy xương ức lõm vào trong lồng ngực.

Nguyên nhân gây bệnh?

Mặc dù chưa có bằng chứng về gen liên quan tới bệnh, yếu tố  di truyền cũng được ghi nhận ở bệnh này. Khoảng 35% người lõm ngực có người thân trong gia đình cùng bị bệnh. Người ta ghi nhận có thể có sự liên quan giữa bệnh lý này và hội chứng Marfant, Poland. Bệnh lõm ngực bẩm sinh là một bệnh có tỉ lệ gặp không cao, chỉ vào khoảng 0,25 - 0,30%, tuy nhiên nó lại là dạng dị tật thuộc hàng phổ biến nhất trong các dị tật ở ngực.

Nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới

Bệnh lõm ngực bẩm sinh là một bệnh có tỉ lệ gặp không cao, chỉ vào khoảng 0,25 - 0,30%, Theo các nghiên cứu tại Mỹ, tỉ lệ dị tật này chiếm từ  1/400 – 1/300 trẻ sinh sống. Tuy nhiên nó lại là dạng dị tật thuộc hàng phổ biến nhất trong các dị tật ở ngực. Trẻ trai chiếm ưu thế so với trẻ gái với tỷ lệ 3:1.

Bệnh có thể tự hết?

Diễn tiến tự nhiên của dị tật không tự khỏi, mức độ lõm ngực có thể giữ nguyên như sau khi sinh đến lúc trưởng thành. Tuy nhiên, đa số các trường hợp diễn tiến nặng dần, diễn tiến chậm từ sau sinh đến tuổi dậy thì và nặng lên rất nhanh trong giai đoạn dậy thì.

Ảnh hưởng của bệnh đối với sức khỏe?

Trong bệnh lõm ngực bẩm sinh, bản chất bệnh ở xương nhưng biến chứng lại ở ngoài xương.

Biến chứng tác động mạnh nhất là những thay đổi về mặt thẩm mỹ. Bộ ngực bị biến dạng, càng lớn, càng dậy thì, càng đến tuổi làm đẹp thì ngực càng bị biến dạng mạnh. Ngực trở nên gù vẹo, lõm sâu, co kéo. Đa phần các đối tượng đều cảm thấy xấu hổ, mất tự tin và ngại giao tiếp. Việc khoe ngực, diện những bộ đồ thời trang có lẽ chỉ là ước mơ xa vời.

Bên cạnh những biến đổi về mặt thẩm mỹ là những ảnh hưởng tiêu cực về mặt sức khoẻ.

Đầu tiên chúng làm đảo lộn vị trí và thay đổi hoạt động chức năng của tim. Tùy vào thể lõm ngực là chính tâm hay lệch tâm mà nó tác động tới tim như thế nào. Nhưng thường thì tim sẽ bị di đẩy ra khỏi vị trí bình thường. Điều này là thực sự không có lợi vì sự di đẩy của tim kéo theo sự xoắn vặn và kéo đẩy của mạch máu lớn. Sự tác động này thường làm thiếu hụt khối lượng máu tuần hoàn. Tim có thể lệch trái, lệch phải hoặc có khi bị ép ở chính giữa. Hoạt động phát nhịp tim có thể bị nhanh lên hoặc chậm đi bất thường.

Thứ hai đó là sự tác động tiêu cực lên phổi. Lồng ngực lẽ ra cần phải “căng” và nở nang để nở ra trong mỗi thì hô hấp. Nhưng do dị tật, thể tích lồng ngực bị giảm rất lớn. Hiện tượng này làm phổi không thể giãn ra được và do đó chức năng hô hấp không đảm bảo. Thường xuyên, người bệnh bị chứng thiếu khí thở, thiếu máu, giảm nồng độ ôxy trong máu, tăng nồng độ khí carbonic trong máu. Thể lực bị suy giảm và hầu như bị giảm phát triển. Nạn nhân khó có sự phát triển thể lực vạm vỡ nếu như không được điều trị sớm.

Điều đáng ngại hơn, nếu những nạn nhân này bị các bệnh lý cấp tính khác như viêm phổi, sốt xuất huyết, nhiễm khuẩn huyết thì tai biến rất dễ xảy ra và nguy cơ tử vong rất cao.

Chỉ định mổ lõm ngực khi nào?

Chỉ định phẫu thuật dựa vào triệu chứng mệt khi vận động gắng sức, dấu hiệu đẩy lệch tim và yêu cầu về thẩm mỹ của bệnh nhân.

Tuổi thích hợp phẫu thuật?

Từ 4 tuổi trở lên là có thể phẫu thuật được nhưng còn tùy thuộc vào thể trạng bệnh nhân.

Các phương pháp điều trị lõm ngực?

- Các phương pháp được dùng trước kia

Trước đây, phẫu thuật Ravitch (bằng cách lấy bỏ sụn sườn quá phát nhưng giữ lại màng sụn và cố định xương ức ở vị trí bình thường. Các sụn sườn sau đó sẽ phát triển theo các màng sụn để lại và tạo một khung mới giữ xương ức ở vị trí đã được chỉnh sửa và cố định) là phẫu thuật duy nhất và chuẩn mực để sửa chữa dị dạng lõm ngực bẩm sinh. Tuy nhiên đây là phẫu thuật gây tàn phá, để lại sẹo lớn và một lồng ngực tuy không lõm nhưng cũng không đẹp.

- Phương pháp phẫu thuật hiện nay?

Năm 1987, tác giả Donald Nuss giới thiệu một phẫu thuật mới gọi là phẫu thuật xâm lấn tối thiểu (Nuss procedure), luồn một thanh kim loại qua ngực để nâng phần ngực lõm lên . Phẫu thuật này ngày càng được chấp nhận như một phương pháp thay thế cho kỹ thuật của Ravitch với ưu điểm lớn là xâm lấn tối thiểu, ít tàn phá, thời gian phẫu thuật nhanh, ít mất máu, trẻ nhanh chóng hồi phục về với cuộc sống bình thường do thời gian nằm viện ngắn (2-3 ngày).

Cách thức phẫu thuật?

Trước những biến chứng có thể xảy ra, việc điều trị là bắt buộc. Với bệnh lõm ngực bẩm sinh, phẫu thuật tạo hình là ưu thế lớn nhất. Phẫu thuật sẽ làm thay đổi chiều hướng phát triển và hạn chế sự lấn chiếm vào trong lồng ngực của khối xương biến dạng.

Trong phẫu thuật, các bác sĩ sẽ cưa đứt những xương sườn biến dạng. Sau đó, luồn một thanh kim loại cứng làm giá đỡ vào sau xương ức và xương sườn. Thanh kim loại này có tác dụng nâng khối xương lên, trả về vị trí cũ và định hướng cho khối xương phát triển ra ngoài mà không phát triển vào trong. Lồng ngực được giải phóng.

Đây là một kỹ thuật toàn diện và đạt hiệu quả tối ưu. Vì nó không làm mất đi phần xương nào của cơ thể nhưng lại bảo toàn được thể tích của lồng ngực.

Các biến chứng sau phẫu thuật?

Biến chứng sớm (xảy ra trong tháng đầu tiên)

- Tràn khí màng phổi 6.9%

- Tụ dịch vết mổ 3.3%

- Di lệch thanh kim loại 2.4%

- Thủng tim

Biến chứng muộn

- Viêm màng ngoài tim và tràn dịch màng ngoài tim 1.5%

- Di lệch thanh kim loại 1.2%

- Tràn máu màng phổi 0.9%

Thời gian lấy thanh kim loại ra?  Khoảng 2-3 năm sau mổ.

Điều quan trọng là phát hiện sớm để điều trị sớm, điều trị trước dậy thì sẽ đem lại cơ hội phát triển bình thường cho các em. 

Chi phí cho cuộc mổ?

Nếu có thể bảo hiểm bé sẽ được hưởng phần bảo hiểm của bé. Nhưng tiền mua thanh kim loại nâng ngực lõm thì gia đình phải thanh toán, giá khoảng 12-13 triệu đồng/thanh. Bé có thể được đặt 1 hoặc 2 thanh tùy theo mức độ lõm của ngực. Chi phí cuộc mổ nếu bé có giấy chuyển viện đúng thủ tục sẽ được bảo hiểm thanh toán.

Benh.vn

ads-content
adv-content
ads-bottom