Vẫy tay dưỡng sinh phòng và hỗ trợ chữa nhiều bệnh

Vẫy tay là một môn nội công xuất phát từ Trung Quốc và đã được áp dụng ở Việt Nam từ nhiều năm nay, để chữa các bệnh mạn tính như hen suyễn, tiêu hóa, tim mạch, suy nhược thần kinh...

Y học cổ truyền có rất nhiều phương pháp chữa bệnh như châm cứu xoa bóp, dùng thuốc, khí công dưỡng sinh... trong đó có một phương pháp chữa bệnh rất đơn giản, có độ an toàn cao, hiệu quả mà nhiều người chưa biết đó là vẫy tay. Vẫy tay là một môn nội công xuất phát từ Trung Quốc và đã được áp dụng ở Việt Nam từ nhiều năm nay, để chữa các bệnh mạn tính như hen suyễn, tiêu hóa, tim mạch, suy nhược thần kinh... Chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm đã thực hiện phương pháp này nhiều năm và thấy hiệu quả chữa một số bệnh khá rõ rệt.

Môn tập vẫy tay là vận nội công hỗ trợ chữa được nhiều bệnh, nhất là về đường ruột như đau dạ dày, táo bón, tiêu chảy, về tim phổi như hen phế quản.

Cách tập như sau:

Thế đứng: Đứng thật ngay thẳng như đứng chào cờ, mắt nhìn chăm chăm vào một điểm, hai bàn chân đặt song song chiếu thẳng hai vai, các ngón chân bấm chặt xuống đất, như đứng chỗ đất trơn, sợ ngã. Phần từ chân đến hông lên gân thật cứng, còn phần trên để lỏng lẻo. Các ngón tay để mở tự nhiên, úp về phía sau.

Động tác:

- Hai tay giơ lên nửa chừng, hít thở mạnh đồng thời thót hậu môn (như khi nhịn đại tiện). Bụng sẽ thót vào và ngực nở ra, nâng các bộ phận trong bụng lên và vận động tim phổi. Đó là vận nội công. Lại nhẹ nhàng buông hai tay xuống ấp vào đùi. Từ đây hất hai tay thật mạnh ra sau và lên trên rồi lại buông xuống nhẹ nhàng. Thế là xong một động tác, đếm là một.

- Tiếp tục động tác đó và đếm. Tập như thế và đếm tiếp cho đến mệt (được bao nhiêu động tác đó tùy theo sức mình) và có thể nghỉ. Thở nhẹ nhàng để hồi sức, rồi lại tiếp tục và đếm, cho đến khi nghỉ hẳn.

Tập lần sau nhiều hơn lần trước và tăng dần cho đến khi nghỉ, dần dần tăng lên đến ít nhất là 300 thì trị được bệnh, tập liên tục hàng tháng thấy bệnh giảm dần, có thể khỏi.

Cách tập đơn giản, chỉ cần kiên trì tập vẩy tay đúng phương pháp là sẽ hiệu quả rất lớn. (Ăn ngon - Ngủ tốt) sức khỏe tăng và đặt biệt là tiêu trừ được mọi bệnh như: Suy nhược thần kinh, Cao huyết áp, hen xuyễn, các bệnh tim mạch, dạ dầy, đường ruột, thận, gan, mật, trĩ nội… rồi bán thân bất toại, trúng gió méo mồm lệch mắt …đều biến hết. Nhất là đối với các loại bệnh mãn tính của người cao tuổi, kể cả các bệnh ung thư đều phòng và trị được. Với các bệnh về mắt, luyện vẩy tay Dịch Cân Kinh có thể chữa khỏi các chứng đau mắt thông thường, đau mắt đỏ và đục thủy tinh thể.

Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh là làm cho khí huyết lưu thông đều khắp cơ thể, vào cả lục phủ, ngũ tạng, các hệ thần kinh,… nên có tác dụng kì diệu vậy đó.


PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP (VẨY TAY ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH)

Môn thể dục này tăng cường sức khỏe, chữa bệnh, khai thông đốc mạch, ta có thể tập luyện bất cứ lúc nào trong ngày.

TRƯỚC TIÊN NÓI VỀ THẦN KINH

Phải có hào khí: nghĩ đến quyết tâm tập luyện, đều đặn, kiên nhẫn, vững vàng tin tưởng, không nghe lời bàn ra nói vào chán nản bỏ dở.

Phải lạc quan: không sợ bệnh mà mọi người cho là hiểm nghèo, lạc quan tin rằng mình sẽ thắng bệnh do luyện tập.

TƯ THẾ (Trên không, dưới có, lên ba, xuống bẩy)

Đứng thẳng ngực ưỡn, hai chân dạng ra song song với bả vai của mình. Co các đầu ngón chân lại, bấm xuống dưới, lưỡi co lại, đầu lưỡi chạm nhẹ lên hàm trên (để nối mạch nhâm đốc), miệng ngậm, răng kề răng, nhìn thẳng về phía trước, mắt nhắm, hoặc mở cũng được. Từ (ấn đường) tức điểm giữa hai đầu lông mày và tập trung lên đỉnh đầu (kết nối tuyến yên và tuyến tùng).

ĐỘNG TÁC

Hai cánh tay đưa ra phía trước song song với nhau, tạo thành góc 30 độ, Xòe tay ra,lòng bàn tay quay về phía sau, rồi từ từ đưa hai cánh tay song song về phía sau và ngửa bàn tay lên, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay trầm bàn tay quay lại phía sau xòe ra, như vẫy phía sau, bụng dưới thót, gót chân lỏng, bàn chân phải cứng bấm chặt như đứng trên đất trơn. Đây là những qui định khi tập luyện, (vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh).

Dựa trên yêu cầu này, khi tập, vẫy tay, cơ hoành trở lên, phải giữ được trống không, buông lỏng thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc tập, xương cổ cầ buông lỏng để có cảm giác đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự nhiên (không mím môi), hít thở bình thường. 

Khi vẩy tay cần nhớ (lên không, xuống có), nghĩa là do quán tính, không dùng sức đưa ra phía trước, (trên ba, dưới bẩy) là phần trên để lỏng chỉ độ ba phần khí lực, phần dưới lấy cố sức tới bẩy phần thế lực, vấn đề này phải quán triệt phải đầy đủ thì hiệu quả rất tốt.

Mắt nhìn thẳng, đầu không nghĩ ngợi gì, chỉ nhẩm đếm lần vẩy tay.

THỜI LƯỢNG

Tập như vậy khoảng 15 đến 30 phút. Có thể nhiều hơn mỗi ngày.

CÁCH THAO TÁC TẬP CỤ THỂ 

- Hai cánh tay thẳng theo vai, ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay về phía sau. 

- Bụng đưới thót lại, lưng thẳng, bụng trên co lên, cổ lỏng, đầu và miệng trong trạng thái bình thường. 

 Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót chân sát đất, bắp chân và cùi trỏ thẳng.

- Hai mắt chọn một điểm đằng xa để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào ngón chân bấm, đùi vững chắc, hậu môn thót lại, miệng nhẩm đếm.

- Dùng sức vẫy về phía sau, để hai tay trở lại phía trước theo quán tính, tuyệt đối không dùng sức.

- Vẫy tay từ 300-400 dần dần đến 1000–2000- 3000 cái vẩy tay trong vòng 30 phút.
- Phải quyết tâm tập đều dặn, vẩy tay sẽ tăng dần lên không miễn cưỡng, nhưng cũng không tùy tiện tập bừa bãi, như vậy khó có hiệu quả. Bắt đầu tập luyện cũng không nên dùng sức làm tổn thương đến các đầu ngón chân. Sau buổi tập nên mát xa các đầu ngón chân, tay, mỗi ngón chín lần. Nếu bạn nôn nóng mong muốn khỏi bệnh ngay mà dùng quá sức, cũng không có hiệu quả như mong muốn. Nếu tinh thần không tập trung, tư tưởng bị phân tán, thì khí huyết loạn xạ, mà không chú ý đến trên nhẹ, dưới nặng, thì càng khong có hiệu quả. Khi vẩy tay tới 600 cái trở lên, thường thường có trung tiện (đánh hơi), hắt hơi, hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng bừng… đây là hiện tượng bình thường, có phản ứng là tốt, là đã có hiệu quả, nên tập tiếp. 

Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên, đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với (trên nhẹ dưới nặng). Đây là quy luật của sinh lý hợp với vũ trụ (thiên khinh địa võng).

- Bệnh gan: Do khí huyết, tạng gan không tốt, gây nên khí không thoát, tích lũy, làm cho khó bài tiết. Đương nhiên nhiên là bệnh nan y ảnh hưởng tới tất cả mật và tì vị. Vẩy tay dịch cân kinh có thể giải quyết vấn đề này. Nếu sớm có trung tiện là có kết quả sớm.

- Bệnh mắt: Luyện (Vẩy tay dịch cân kinh) có thể khỏi đau mắt đỏ, các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm trí chữa cả bệnh đục thủy tinh thể. 

NHỮNG PHẢN ỨNG

Khi tập (Vẩy tay dịch cân kinh) có thể có những phản ứng, đều là hiện tượng thải bệnh, không đáng ngại. Xin liệt kê ra một số phản ứng thông thường (có thể có những phản ứng khác nữa).

Đau buốt, Lạnh, Đầy hơi, Ngứa, Tê dại, Nóng, Sưng, Ra mồ hôi, Lưng đau, Đầu nặng

Nấc, Nôn mửa, ho, Lông, tóc dựng, Giật gân, giật thịt, Máy mắt, mí mắt giật,

Hơi thở ra nhiều, thở dốc, Trung tiện, Huyết áp biến đổi, Sắc mặt biến đổi,

Chảy máu cam, Đau mỏi toàn thân, ứa nước miếng, Tiểu tiện nhiều, Có cảm giác như kiến bò

Đau xương, có kêu lục cục, Có cảm giác máu chảy dồn dập, Gót chân nhức nhối như mưng mủ

Cụm trắng ở lưỡi biến đổi, Da cứng, da dầy (Chai chân, mụn cóc) rụng đi, Trên đỉnh đầu mọc mụn, Ngứa từng chỗ hay toàn thân.

Các phản ứng trên là do độc khí trong người bị bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ chất ngứa ứ đọng, tức từ bệnh tật.

Có phản ứng là có sự xung đột giữa chính khí và tà khí. Ta vẫn tiếp tục vẩy tay sẽ sản sinh ra chất bồi bổ, có nhiều ích lợi cho chính khí. Ta luyện tập đúng phép làm tăng sức đề kháng, thải cặn bã trong các gân, thần kinh và các tế bào khác, mà máu bình thường không thải nổi. Khi luyện (Vẩy tay dịch cân kinh) khí huyết lưu thông mới thải nổi các cặn bã ra, nếu sinh ra phản ứng ta đừng sợ, cứ tiếp tục tập như bình thường, hết một phản ứng là hết một bệnh, tập luyện dần là đưa lại kết quả tốt.

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN CHÚ Ý

Số lần vẫy tay không nên ít: Từ 600 đến 1800 lần trong 30 phút, mới là toại nguyện cho việc điều trị. Bệnh nhân nặng, có thể ngồi vẩy tay, tuy ngồi nhưng phải nhớ thót hậu môn và bấm 10 ngón chân.

Số buổi tập:

- Buổi sáng thanh tâm - Tập mạnh

- Buổi chiều trước khi ăn - Tập vừa 

- Buổi tối trước khi đi ngủ - Tập nhẹ

Có thể tập nhiều lần là bao nhiêu: Ngưỡng cửa của sự tập chuyển biến là 1800 lần vẫy tay, có bệnh nhân vẫy tối 3000-6000. Nếu sau khi tập vẫy ăn ngon, ngủ tốt đại tiện điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ con số thích hợp.

Tốc độ vẩy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm, chứ không nên nhanh. Bình thường vẩy chậm thì 1800 lần hết 30 phút. Vẩy tay đên giữa chừng nhanh hơn lúc ban đầu một chút, đây là lực động của khí. Khi mới vẩy rộng vòng và chậm một chút. Khi đã thuần thục thì vẩy hẹp vòng, người bệnh nhẹ thì nên vẩy nhanh và dùng sức nhiều, người bệnh nặng thì vẩy chậm và hẹp vòng. Vẩy tay nhanh quá làm cho tin đập nhanh, mà vẩy chậm quá thì không đạt tới mục đích luyện tập là cần cho mạch máu lưu thông. 

Vẩy tay nên dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ: Vẩy tay là môn thể dục chữa bệnh, chứ không phải là môn thể thao đặt biệt. Đây là môn thể dục mền dẻo hay (Có thể gọi là thể dục YOGA cũng được), đặc biệt là dùng ý mà không dùng sức. Nhưng nếu vẩy nhẹ quá cũng không tốt, bởi vì bắp vai không được lắc mạnh thì lưng và ngực cũng không được chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm. Vẩy tay không phải chỉ chuyển động cánh tay mà phần chính vẫn là chuyển động bắc vai. Bệnh phong thấp thì nên dùng mức nặng một chút. Bệnh huyết áp cao thì nên vẫy tay chậm và nhẹ. Nói tóm lại, phần lớn phải tự mình nắm vững tình trạng, phân tích những triệu chứng, sau khi tập, nghe sự nhận xét của người xung quanh, thấy sự chuyển biến của mình, nhanh nhẹ hơn, tươi tỉnh hơn hay kém hơn trước, rồi tự mình suy nghĩ và quyết định cách tập, rồi luôn luôn tổng kết, trên nguyên tắc là tập thế nào cho người thấy thoải mái và dễ chịu hơn mà thấy là đúng thì cứ tập nhu thế. Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích cho cơ thể, động tác mạnh (nặng) là loại bỏ các chất cặn bã có hại trong người, tức là bệnh tật. Lý luận này cũng đang được nghiên cứu. 

Mức độ vẩy tay: Chỉ vẩy tay về phía sau dùng sức 7 phần không vẫy về phía trước, mà chỉ để tay rơi tự do theo phản xạ của cánh tay cho là 3 phần. 

Có cần đếm không: Đếm không phải chỉ để nhớ mà còn có tác dụng làm cho ý nghĩ được thanh thản, tim được trầm tĩnh, chính khí được bồi dưỡng,có tác dụng làm cho bộ não được nghỉ ngơi và thăng bằng, không nghĩ ngợi lung tung. 

Nơi tập: không cần chỗ tập đặc biệt, tập ở đâu cũng được, trong nhà, ngoài trời, dĩ nhiên nơi có dưỡng khí trong sạchvà yên tĩnh vẫn tốt hơn. Trách nơi có gió lùa, mùa hè hay mùa đông đều tránh đứng đầu ngọn gió. 

Trước và sau khi tập: Trước khi tập nên đứng bình tĩnh cho tâm được thoải mái, yên tĩnh để chuyển hóa về sinh lý và tâm lý, ta có thể làm đúng động tác nhẹ nhàng thoải mái, như trong môn khí công. Đến khi tập xong cũng nên bình tĩnh mà vê 10 đầu ngón tay, 10 đầu ngón chân. Những người không đủ bình tĩnh, cần đặc biệt chú ý đến điều này. 
Tập Dịch cân kinh thế nào cho đúng: Sau khi tập cảm thấy ngực và bụng nhẹ nhàng, dễ chịu, hơi thở điều hòa, mắt sáng, nước miệng ứa ra, đại tiện dễ, ăn ngon, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt dần, thì đấy là đúng. Rất ít khi tập sai, tỉ lệ tập sai không tới 1%. Sau khi tập đại đa số đều thấy có phản ứng, nhưng về hiệu quả thì rất khác nhau, nguyên nhân chính là tư thế khi tập có thích hợp với thể chất người tập hay không. 

a- Lúc bắt đầu tập nên cần chú ý đến điểm nào: 

- Nửa thân trên buông lỏng - Thượng - hư

- Nửa thân dưới giữ chắc - Hạ - thực 

- Tay ra phía trước - Không dùng lực (nhẹ) 

- Vẫy tay ra phía sau - có dùng sức (nặng)

Tập đếm số lần vẫy tay ngày một tăng, ngày 3 buổi tập, kiên quyết tự chữa bệnh cho mình.
b- Trạng thái tinh thần lúc tập: có ảnh hưởng rất lớn.
- Hết lòng tin tưởng

- Kiên quyết tới cùng

- Tập đủ số nhất định, tập thường xuyên.

Benh.vn