Marker chu chuyển xương và loãng xương

Gần đây nhiều tác giả nghiên cứu cho thấy marker chu chuyển xương có vai trò trong hỗ trợ chẩn đoán, dự báo nguy cơ mất xương, gãy xương và theo dõi sau điều trị các thuốc chống loãng xương.

Bệnh loãng xương là một vấn đề sức khỏe gây ảnh hưởng lớn tới mỗi người cũng như toàn xã hội do gánh nặng bệnh tật và chi phí chữa bệnh lớn. Ngày nay nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ gẫy xương tăng cao hơn ở những phụ nữ có mật độ xương thấp: giảm một độ lệch chuẩn mật độ xương thì nguy cơ gãy xương tăng gấp hai lần. Tuy nhiên, ngoài mật độ xương còn nhiều yếu tố nguy cơ khác đối với gãy xương do bệnh loãng xương.

Gần đây nhiều tác giả nghiên cứu cho thấy marker chu chuyển xương có vai trò trong hỗ trợ chẩn đoán, dự báo nguy cơ mất xương, gãy xương và theo dõi sau điều trị các thuốc chống bệnh loãng xương. Chu chuyển xương dự báo gãy xương theo hai cách: (a) kết hợp với mật độ xương: tăng chu chuyển xương kết hợp với mật độ xương thấp; và (b) độc lập với mật độ xương: tăng chu chuyển xương gây tổn thương vi cấu trúc của mô xương và làm tăng tính giòn, dễ gãy của xương.

Chu chuyển xương ở người lớn là quá trình sửa chữa, đổi mới xương cũ bằng xương mới để tái cấu trúc xương nhằm duy trì chất lượng và khối lượng xương, duy trì cấu trúc khung - mô xương và sửa chữa những vết nứt và gãy nhỏ. Chu chuyển xương bình thường là một quá trình kép luôn có sự cân bằng giữa tạo xương và hủy xương. Quá trình này được thực hiện nhờ các tế bào xương gồm tế bào tạo xương, cốt bảo, tế bào hủy xương, tế bào nền và sẽ tạo ra các sản phẩm liên quan đến hoạt động của các tế bào và chất liệu của mô xương.

Các sản phẩm sinh học này được gọi là các marker chu chuyển xương. Các marker được chia làm hai nhóm lớn: (1) Marker hủy xương - phản ánh hoạt động của tế bào hủy xương và là sản phẩm thoái giáng của collagen typ 1; và (2) marker tạo xương - phản ánh hoạt động của các tế bào tạo xương và sản phẩm phụ của sự tổng hợp collagen, các protein mạng lưới hoặc enzyme của tế bào tạo xương. Hiện nay tại Việt Nam, sử dụng các market chu chuyển xương trên lâm sàng mới chỉ được sử dụng trong các nghiên cứu mà chưa áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng chẩn đoán bệnh. 

Các market chu chuyển xương thường được sử dụng hiện nay

Market tạo xương

Market hủy xương

Sản phẩm phụ của sự tổng hợp collagen

Procollagen typ 1 C – Terminal propeptid huyết thanh (PICP)

Procollagen typs 1 N – terminal propeptid huyết thanh (PINP)

Sản phẩm thoái giáng của collagen

Hydroxyproline niệu

Pyridinoline niệu và huyết thanh

Deoxypyridinoline niệu và huyết thanh

Protein mạng lưới xương:

Osteocalcin huyết thanh

 

 

 

Enzyme tế bào tạo xương

Tổng lượng phosphataze kiềm huyết thanh

Phosphataze kiềm đặc hiệu của xương trong huyết thanh

Đoạn nối telopeptid của typ I collagen:

Đoạn nối telopeptid có đầu tận N niệu và huyết thanh

Đoạn nối telopeptid có đầu tận C niệu và huyết thanh

Đoạn nối telopeptid có đầu tận C được sản xuất từ mạng lưới metalloproteinases huyết thanh (CTX - MMP)

Enzyme tế bào hủy xương

Tartrate-resitant acid phosphatase huyết thanh

Cathepsin K huyết thanh

 

Trong thực hành lâm sàng các marker chu chuyển xương thường được sử dụng trong một số các trường hợp sau:

Ở phụ nữ mãn kinh: giảm nồng độ estrogen gây ức chế hủy xương sẽ làm tăng nhanh nồng độ các marker này là khác nhau, dường như phản ánh mức đặc hiệu đối với xương là thấp hay cao. PNMK có loãng xương nồng độ marker hủy xương tăng lên một cách có ý nghĩa nhưng nồng độ marker tạo xương thì tăng chậm hơn và thậm chí là giảm, nghĩa là có tình trạng mất cân bằng hủy xương và tạo xương khi có bệnh loãng xương.

Marker chu chuyển xương có thể dự báo mất xương: Nhiều nghiên cứu cho thấy mất xương có mối liên quan với nồng độ marker chu chuyển xương. Ở những năm đầu sau mãn kinh, có mối tương quan nghịch giữa nồng độ marker chu chuyển xương và mất xương [4]. Trong 7 năm đầu sau mãn kinh khi kết hợp các yếu tố có tăng nồng độ marker tạo xương PINP, OC kết hợp với giá trị mật độ xương có thể dự báo tình trạng mất xương ở cẳng tay, đối với mật độ xương ở cột sống và cổ xương đùi thì dự báo nghèo nàn hơn. Tuy nhiên tất cả các nghiên cứu đều thống nhất rằng nồng dộ marker chu chuyển xương cao có liên quan với tình trạng mất xương trong quần thể, nhưng không thể ứng dụng vào việc dự báo tình trạng mất xương đối với mỗi người, cũng như bệnh loãng xương

Dự báo nguy cơ gãy xương: Trong khi một số marker chu chuyển xương có thể dự báo mất xương trong quần thể đồng thời cũng có ý nghĩa dự báo nguy cơ gãy xương độc lập với BMD. Lý giải cho điều này có thể diễn giải như sau: Chu chuyển xương cao tự nó có thể phá vỡ cấu trúc các bè xương và mạng lưới trong xương nên làm giảm độ mạnh của xương mà không làm ảnh hưởng tới khối lượng xương. Nếu kết hợp mật độ xương và nồng độ marker chu chuyển xương có thể dự báo nguy cơ gãy xương tốt hơn là chỉ sử dụng giá trị mật độ xương để dự báo [2,4]. Tuy nhiên marker chu chuyển xương không thể thay thế mật độ xương trong chẩn đoán bệnh loãng xương.

Theo dõi đáp ứng với điều trị: Những thay đổi sớm của marker chu chuyển xương sau điều trị thuốc có thể dự báo những thay đổi về BMD và nguy cơ gãy xương. Một số nghiên cứu thấy giảm nồng độ CTX và NTX sau 6 tháng điều trị alendronat hoặc điều trị hormon thay thế có liên quan với tăng mật độ xương ở cột sống ở 2-4 năm sau đó ở phụ nữ lớn tuổi [4]. Người ta thấy marker hủy xương sẽ giảm nhanh khi bệnh nhân có đáp ứng với điều trị nhóm thuốc này. Điều trị bệnh loãng xương bằng nhóm thuốc điều hòa thụ thể estrogen chọn lọc như raloxifene tác động lên các marker chu chuyển xương ở mức thấp hơn so với nhóm biphosphonate.

Kết luận: Marker chu chuyển xương được chứng minh là một công cụ không quá đắt, hữu ích, không xâm nhập để đánh giá chuyển hóa xương trong các nghiên cứu cộng đồng và dần đang được đưa vào thực hành lâm sàng chẩn đoán bệnh. Ưu điểm chính của các marker này là theo dõi sự tuân trị và đáp ứng của bệnh nhân bệnh loãng xương với các phương pháp chữa bệnh. Trong tương lai cần tiếp tục nghiên cứu sinh bệnh học của bệnh loãng xương nhằm tìm ra những vai trò tích cực của các marker này trong thực hành lâm sàng theo dõi, chăm sóc phụ nữ mãn kinh.

Benh.vn (theo PGs.Ts. Lê Thu Hà; Bs. Vũ Thị Thanh Hoa - BV108)