Xét nghiệm huyết học định lượng Fibrinogen

Xét nghiệm định lượng fibrinogen được chỉ định trong trường hợp: thăm dò toàn bộ quá trình đông máu, Phát hiện những bất thường bẩm sinh hoặc mắc phải của fibrinogen, theo dõi liệu pháp điều trị tiêu huyết khối

Nguyên lý 

Đo thời gian đông của huyết tương bệnh nhân (được pha loãng tỷ lệ 1/10) sau khi cho một lượng thừa thrombin. Thời gian đông được đối chiếu với đường cong chuẩn có sẵn sẽ biết được nồng độ fibrinogen trong huyết tương của bệnh nhân.

Đường cong chuẩn được thiết lập bằng cách: pha dung dịch fibrinogen chuẩn (biết trước nồng độ) ở các nồng độ khác nhau rồi đo thời gian đông ở mỗi nồng độ sau khi cho thừa thrombin. Từ đó ta vẽ được một đường cong chuẩn nồng độ fibrinogen- thời gian. 

Phương tiện, hóa chất 

Phương pháp thủ công 

Bình cách thủy 37oC.

Ống nghiệm kích thước 75 x 9,5mm.

Thrombin: dung dịch thrombin 250 đơn vị NIH trong 1 ml NaCl 0,9%.

Đệm barbiton pH 7.4: trước khi dùng pha với NaCl 0,9% theo tỷ lệ 1:1.

Fibrinogen 0,4g/l: fibrinogen người 40 mg/100 ml đệm barbiton. 

Phương pháp tiến hành trên máy phân tích đông máu tự động 

- Máy phân tích đông máu tự động.

- Hóa chất thrombin và đệm barbiton theo bộ kit phù hợp với từng loại máy. 

Tiến hành kỹ thuật 

Phương pháp thủ công 

Lấy máu, tách huyết tương: tương tự tách huyết tương trong xét nghiệm PT.

Pha dung dịch fibrinogen chuẩn để có nồng độ 0,1; 0,2; 0,3 g/l trong dung dịch đệm. Chuẩn bị 4 ống nghiệm, cho vào bể ấm 37¬¬0C.

Cho vào mỗi ống 0,2 ml dung dịch fibrinogen theo các nồng độ đã pha.

Thêm vào 0,2 ml dung dịch thrombin, bấm đồng hồ theo dõi thời gian đông (vừa lắc trộn vừa theo dõi đông). Vẽ đường thẳng chuẩn của thời gian đông và nồng độ fibrinogen trên giấy logarit kép.

Pha loãng 1/10 huyết tương bệnh nhân trong đệm barbiton và tiến hành xét nghiệm như trên. 

Phương pháp tiến hành trên máy phân tích đông máu tự động 

- Mẫu máu kiểm tra được chống đông bằng natri citrat 3,2% hoặc 3,8% với tỷ lệ chống đông là 1/10; ly tâm tốc độ 3000v/p trong 10 phút.

- Tiến hành xét nghiệm trên máy phân tích đông máu tự động theo protocol riêng của từng máy. 

Đọc kết quả 

- Thời gian đông được đối chiếu trên đường thẳng chuẩn. Sau đó nhân với 10 để có lượng fibrinogen trong huyết tương bệnh nhân. Nếu thời gian đông không nằm trong giới hạn đường chuẩn thì cần pha mẫu xét nghiệm ở các nồng độ khác cho thích hợp (đặc hay loãng hơn 1/10) và nhân theo tỷ lệ pha loãng mới này.

- Nồng độ fibrinogen bình thường từ 2-4g/l. 

Nguyên nhân sai lầm 

- Do mẫu bệnh phẩm: mẫu máu bị đông, sai tỷ lệ chống đông, không đúng chất chống đông, hoặc chất chống đông bị hỏng; huyết tương đục hoặc vỡ hồng cầu (đối với máy phân tích tự động theo nguyên lý trở kháng đã khắc phục được nhược điểm này); mẫu máu để quá 4 giờ kể từ khi lấy máu mới tiến hành xét nghiệm.

- Do phương tiện, hoá chất: do chất lượng hoá chất không đảm bảo hoặc đã quá thời gian bảo quản; mẫu huyết tương chứng không lấy tập hợp hoặc lấy tập hợp từ một lượng ít hơn 5 người; ống nghiệm sử dụng không sạch; pipet hỏng, không đảm bảo đúng thể tích; máy phân tích đông máu không đảm bảo tính chuẩn xác và độ lặp lại.

- Do kỹ thuật: không đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật; đọc và tính kết quả sai… 

Ý nghĩa 

Xét nghiệm định lượng fibrinogen được chỉ định trong trường hợp:

Thăm dò toàn bộ quá trình đông máu: bởi vì fibrinogen là một cơ chất tham gia phản ứng của cả quá trình các xét nghiêm đông máu.

Phát hiện những bất thường bẩm sinh hoặc mắc phải của fibrinogen.

Theo dõi liệu pháp điều trị tiêu huyết khối: liệu pháp tiêu fibrin.

Chỉ định thăm dò phản ứng tiêu thụ có hoặc không có tiêu fibrin.

Phát hiện sự tăng nồng độ fibrinogen khi có nguy cơ bệnh lý mạch ví dụ như nhồi máu cơ tim cấp, đột quỵ, hoặc như là kết quả của một phản ứng cấp tính.

Ngoài ra định lượng fibrinogen còng dùng theo dõi viêm nhiễm, điều trị.

adv-content