Bệnh viêm tuyến giáp bán cấp

Bệnh viêm tuýn giáp bán cấp làm tuyến giáp sưng to, sờ mềm, rất đau, thường bắt đầu từ một bên sau đó lan sang bên kia, người đau

Còn gọi viêm tuyến giáp bán mô hạt cấp, viêm tuyến giáp de Quervain’s. Viêm tuyến giáp bán cấp là viêm tuyến giáp gây đau hay gặp nhất.

Bệnh gặp ở nữ nhiều gấp 5 lần so với nam, độ tuổi tập trung cao nhất từ 20-60 tuổi. Bệnh thường xảy ra sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, tỷ lệ gặp cao vào mùa hè là mùa có tỷ lệ nhiễm entorovirus cao. Người ta nghĩ nhiều đến nguyên nhân do virus nhưng chưa có chứng cứ rõ ràng.

Triệu chứng lâm sàng:

Thường khởi phát với đau người, đau họng, sốt nhẹ. Sau đó thường đột ngột hoặc từ từ xuất hiện sốt cao, đau vùng cổ.. Tuyến giáp thường sưng to, sờ mềm, rất đau, thường bắt đầu từ một bên sau đó lan sang bên kia. Đau có thể lan lên tai, ra khắp cổ, hạn chế vận động cổ, kèm theo BN có thể khó nuốt, khó thở.

Triệu chứng nhiễm độc giáp gặp ở trên 50% bệnh nhân thường với các triệu chứng cường giáp vừa và nhẹ. Đa số bệnh nhân sẽ trở lại bình giáp sau vài tuần, sau đó là suy giáp kéo dài khoảng 4-6 tháng. 95% bệnh nhân sẽ trở về bình giáp sau 6-12 tháng. Suy giáp tồn tại lâu dài ở khoảng 5% bệnh nhân.

Cận lâm sàng:

Hội chứng viêm:

Công thức máu: bạch cầu có thể tăng hoặc bình thường

Máu lắng tăng cao

Protein C phản ứng: tăng.

Thăm dò tuyến giáp:

Xét nghiệm chức năng tuyến giáp: tuỳ theo giai đoạn có các biểu hiện khác nhau. Giai đoạn cấp: thường gặp FT4, FT3 tăng, TSH giảm. Giai đoạn suy giáp: FT4, FT3 giảm, TSH tăng.

Kháng thể kháng tuyến giáp: thường không tăng.

Đo độ tập trung I131: độ tập trung I131 rất thấp

Siêu âm: tuyến giáp giảm âm, ít mạch máu.

Chẩn đoán phân biệt:

Cần chẩn đoán phân biệt với các trường hợp đau khác vùng cổ.

Viêm tuyến giáp do vi khuẩn sinh mủ: biểu hiện nhiễm trùng rõ ràng, sốt cao, bạch cầu tăng cao.

Xuất huyết trong nang tuyến giáp: đau khu trú, triệu chứng nhiễm trùng không rõ, máu lắng thường không tăng nhiều, không sốt, siêu âm tuyến giáp thấy hình ảnh nang lớn giúp chẩn đoán loại trừ.

Chẩn đoán phân biệt cường giáp do viêm tuyến giáp bán cấp với Basedow: bệnh nhân Basedow thường không đau vùng tuyến giáp, tuyến giáp to có tiếng thổi, có thể có triệu chứng mắt hoặc phù niêm trước xương chày là những triệu chứng không gặp trong viêm tuyến giáp bán cấp. Độ tập trung I131  trong viêm tuyến giáp bán cấp thấp trong khi độ tập trung I131 tăng cao trong Basedow.

Điều trị: bệnh thường tự khỏi nên chủ yếu là điều trị triệu chứng

Giảm đau: thuốc chống viêm giảm đau không steroid hoặc aspirin có hiệu quả tốt giúp giảm đau trong các trường hợp thông thường. Các trường hợp nặng hoặc không đáp ứng (trong vòng 1 tuần), có thể phải dùng đến nhóm glucocorticoid (Prednisone 20-40 mg/ngày) giảm liều dần và có thể ngừng thuốc sau 4-6 tuần. Glucocorticoid giúp giảm đau nhanh chóng trong vòng 48 giờ điều trị.

Giảm triệu chứng cường giáp: dùng các thuốc nhóm chẹn β giao cảm như propranolol hoặc atenolol tới khi xét nghiệm FT4 trở về bình thường.

Pha suy giáp: thường không cần điều trị vì suy giáp thường nhẹ và thoáng qua. Trường hợp suy giáp rõ cần điều trị bằng levothyroxine tới khi chức năng tuyến giáp trở về bình thường.

Khoa Nội tiết - BV Bạch Mai