Đặc điểm hình ảnh siêu âm các khối u, nang của thận

Các loại khối u đặc, u quái, u nang của thận, tiết niệu được biểu hiện trên hình ảnh siêu âm như thế nào

Vai trò quan trọng nhất của siêu âm là xác định các nang của vỏ thận với các khối đặc. Các khối đặc cần phân biệt giữa u và giả u thận.

Các khối đặc của thận người lớn

Các tổn thương đổng âm của thận người lớn

Một số ung thư biểu mô tế bào thận là đổng âm với vỏ thận, mặc dù phần lớn có các vùng âm hỗn hợp do các mặt phân giới khác nhau, thường có mô mỡ bên trong. Chúng cũng phá hủy cấu trúc bình thường của thân ở vị trí phát triển. Tuy nhiên, các tổn thương đổng âm nằm ở trung tâm có thể là cột Bertin phì đại. Điển hình chúng đẩy các tháp thân và mỡ cạnh cổ đài thận sang bên cạnh. Mặc dù chưa được chứng minh, người ta thấy hình thái tưới máu bình thường trên Doppler năng lượng với phì đại cột Bertin khác với tưới máu trong u.

Bờ ngoài thận trái gổ và có khối đồng âm, cần nhớ tới thận hình bướu lạc đà. Trong trường hợp này, vị trí khối điển hình ở giữa cực trên và đoạn giữa, có các đài thận kéo dài vào bên trong. Các khối u phá hủy hoặc đẩy các đài thận vào trong.

Các tổn thương giảm âm của thận người lớn

Ung thư biểu mô tế bào thân cũng có thể giảm âm nhưng chiếm một phần nhỏ (Hình 12), nhưng với một tổn thương giảm âm nhỏ và nhẵn nên nghĩ tới khả năng lớn là một oncocytoma (u tế' bào lớn, lành tính). Điển hình, các oncocytoma có kích thước 3 đến 6 cm với sẹo hình sao ở trung tâm. Sẹo trung tâm thường thấy trên cắt lớp vi tính, hiếm khi thấy trên siêu âm. Nên sinh thiết vì điều trị oncocytoma là cắt thân bán phần và thường không phân biệt được về hình ảnh với ung thư biểu mô.

Ung thư biểu mô tế,  Oncocytoma. Siêu âm bào thân giảm âm thấy hình khối u nhỏ, giảm âm.

Viêm thận bể thận khu trú cũng có thể gây ra các vùng giảm âm làm phồng bờ thận. Áp xe thận cũng có thể tạo ra hình tương tự. Trong các trường hợp này hình ảnh siêu âm có thể không phân biệt được với u, nhưng tiền sử và các xét nghiệm xác định nhiễm khuẩn thường thiết lập chẩn đoán. Nếu vẫn còn nghi ngờ thì có thể điều trị thử kháng sinh hoặc sinh thiết qua da.

Các tổn thương tăng âm và tăng âm hỗn hợp

Ung thư biểu mô thận cũng có thể có hình thái hỗn hợp âm, tăng âm, nhưng một khối tăng âm nổi trội tương ứng với các yếu tố mỡ và nhiều mặt phân giới trong mô mạch của một angiomyolipoma (u mạch cơ mỡ, lành tính). Các angiomyolipoma nhỏ thường có đậm độ âm cao, và hình thái này không xảy ra với ung thư biểu mô tế bào thận. Do đó chẩn đoán chắc chắn chỉ cần dựa vào siêu âm. Các khối u cơ mỡ mạch hỗn hợp âm nhưng tăng âm là chủ yếu, kích thước lớn nên chụp cắt lớp vi tính để đánh giá mỡ.

Ung thư biểu mô thận. Khối u hỗn hợp âm, phần tăng âm nhiều hơn.

Vôi hóa trong các khối ở thận

Các vùng vôi hóa bên trong khối u có thể nhận ra trên siêu âm là các vùng tăng âm có bóng cản. Các tổn thương như vậy đặc trưng cho ung thư biểu mô tế bào thận. Vôi hóa ngoại vi hoặc viền vôi hóa có thể xảy ra ở ung thư tế bào thân hoặc các bệnh lành tính (như các nang đơn thuần). Một viền vôi hóa mảnh, nhẵn điển hình xảy ra ở các bệnh lành tính; một viền dày, không đều gợi ý một tổn thương ác tính. Do có bóng cản nên sự khác biệt này rất khó thấy bằng siêu âm và vôi hóa trong ung thư biểu mô tế bào thân. Nhiều vùng tăng âm có bóng cản bên trong khối u.

Nhiều khối u thận

Hiếm khi thấy di căn đến thận, một lý do là chỉ khi bệnh ác tính tiến triển rất muộn mới di căn đến thận. Về mặt siêu âm, chúng không thể phân biệt với các khối u nguyên phát, mặc dù nhiều khối u gợi ý đến tổn thương thứ phát. Lymphoma đôi khi thâm nhiễm thận, nhưng lymphoma nhiều ổ giảm âm là phổ biến hơn. Nhiều angiomyolipoma xảy ra trong bệnh xơ cứng củ, hình ảnh tăng âm điển hình. Thận cũng có thể bị liên quan do sự rải rác từ các hách bạch huyết kề cận.

Lymphoma thận: Một khối u lớn, giảm âm nằm ở cực trên thân, một khối u giảm âm khác nhỏ hơn nằm ở giữa hai cực.

Các khối thâm nhiễm thận

Các tổn thương thâm nhiễm thân điển hình xảy ra trong lymphoma và amyloidosis (thoái hoá dạng tinh bột). Tuy nhiên, ung thư biểu mô tế bào thân và ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp cũng có thể thâm nhiễm, và có hình thái tương tự. Thân to ra, mất câu trúc âm bình thường: sự phân biệt tủy vỏ bị mất, mất hoặc giảm tăng âm của mỡ xoang thân. Bản thân mô thâm nhiễm có có thể có đâm độ âm thấp hoặc hỗn hợp mà không chỉ tăng âm (Hình 19). Chẩn đoán xác định yêu cầu sinh thiết.

Lymphoma thâm nhiễm thận: Thận to ra, tăng âm, toàn bộ cấu trúc bên trong bị phá hủy.

Các khối u đặc ở thận trẻ em

Các khối u hay gặp ở trẻ em

Năm đầu tiên: U trung bì phôi (Mesoblastic nephroma)

Trong năm đầu tiên của cuộc sống, khối u thân hay gặp nhất là u trung bì phôi (cũng có tên khác là u loạn sản phôi thời kỳ bào thai, u Wilms bẩm sinh, u loạn sản phôi trung mô, và u liên kết xơ bẩm sinh). Chúng xuất hiên dưới dạng các khối giảm âm đổng nhất, ranh giới rõ, hiến khi có vùng hoặc tử trung tâm trống âm (Hình 20). Đôi khi chúng có các vòng tăng âm và giảm âm đổng tâm. Chúng có thể xâm lấn khu vực, mặc dù chúng không xâm lấn mạch máu rốn thân và không di căn.

Mesoblastic nephroma: Trẻ 8 tháng tuổi có khối ở bụng. Tổn thương điển hình với ranh giới rõ với viền giảm âm đổng nhất, vùng trung tâm hoại tử giảm âm.

U Wilms ở trẻ trên 1 tuổi

U Wilms là khối u hay gặp nhất ở trẻ trên 1 tuổi, phần lớn biểu hiên trước 5 tuổi. Chúng thường to và biểu hiên là khối có ranh giới rõ với một viền giảm âm hoặc tăng âm do mô thân bị chèn ép. Chúng có thể đổng nhất hoặc không đổng nhất do các vùng hoại tử, chảy máu, mỡ và vôi hóa. Chúng có thể xâm lấn khu vực xuyên qua vỏ thân, phát tán dtheo tĩnh mạch thân và tĩnh mạch chủ dưới, di căn hạch vùng, gan và phổi.

U Wilms. Khối u có đâm độ âm hỗn hợp, giới hạn rõ với một viền giảm âm do chèn ép mô thận.

Trẻ lớn: Ung thư biểu mô tế bào thận

Ung thư biểu mô tế bào thận là hiếm với trẻ em, nhưng cũng xảy ra với một đỉnh là 9 tuổi, với khối u thân ở trẻ trên 5 tuổi nên gợi ý tới chẩn đoán này. Các hình thái siêu âm là tương tự với người lớn, với các khối hỗn hợp âm, tăng âm, đồng âm và giảm âm, giới hạn không không rõ bằng khối u Wilms. Khối u có thể xam lấn khu vực, phát tán qua tĩnh mạch thân và di căn tới hạch vùng, phổi và gan.

Các khối u ít gặp ở trẻ em

Lymphoma: Lymphoma liên quan đến thận ở giai đoạn muộn của bệnh. Giống như ở người lớn, có 4 dạng liên quan đến thận: (1) nhiều khối giảm âm, hoặc ít hơn là các khối tăng âm; (2) tổn thương đơn độc; (3) thâm nhiễm (4) thâm nhiễm từ các hạch kề cân.

Bệnh bạch cầu (Leukemia). Các khối giảm âm hoặc tăng âm hiếm khi xảy ra trong bênh bạch cầu, thông thường là dạng thâm nhiễm làm thận to ra, mất sự phân biệt tủy vỏ. 

Malignant Rhabdoid Tumor. Malignant rhabdoid tumor cũng hiếm. Một số có tụ dịch đặc trưng dưới vỏ chứa các nốt. Nếu không có đặc điểm này thì không thể phân biệt với u Wilms. Đỉnh xuất hiên bệnh là 13 tháng tuổi.

Angiomyolipoma. Angiomyolipoma là một khối u hiếm ở trẻ em ngoại trừ trong bệnh xơ cứng củ, 80% có một hoặc nhiều khối, đôi khi chiếm gần hết nhu mô thận.

Nhiều u cơ mỡ mạch rải rác khắp thân ở bệnh nhân xơ cứng củ.

Nephroblastomatosis. U là sự tổn tại của các mô thai ở trẻ nhỏ và là tiền thân của u Wilms. Sự tâp trung đôi khi là vi thể, nhưng mặt khác có thể thấy rõ bằng siêu âm nếu lượng lớn phụ thuộc vào cách phân bố: toàn bộ vỏ giảm âm; viền giảm âm ở dưới bao thân; nhiều ổ giảm âm. Hiếm hơn, các tổn thương này có các hình dạng bất kỳ, tăng âm hoặc đổng âm (Hình 24).

Nephroblastomatosis. Một vùng giảm âm đẩy phức hợp xoang thận. 

Nang thận ở người lớn

Nang thận đơn độc (hoặc một vài nang) ở người lớn Nang vỏ thận đơn thuần. Có đặc điểm của mọi nang đơn thuần khác, chúng có vỏ mỏng, nhẵn, chứa dịch trống âm. Kích thước nang thay đổi, có thể tới 10 cm. Số lượng tăng theo tuổi, đặc biệt ở người già. Khi nhiều rất khó phân biệt với bệnh thân đa nang di truyền trôi (ADPKD).

Nang vỏ thân đơn thuận: Vỏ nang nhẵn, mỏng, chứa dịch trống âm.

Nang cạnh bể thận. Nang sát bể thân ở rốn thận. Nang có sự khác biệt về mô học với nang vỏ thận. Tuy nhiên nang vỏ thận cũng có thể nằm ở trung tâm, sự phân biệt hình ảnh khó khăn. Nhưng do bản chất lành tính giống nhau và không cần điều trị nên sự phân biệt đôi khi không cần thiết.

Nang cạnh bể thận: Chẩn đoán dựa vào vị trí của nang. 

Nang vỏ thận đơn thuần và nang cạnh bể thận là các cấu trúc vỏ mỏng, chứa dịch trống âm. Bất cứ tính chất nào khác các đặc điểm đã nêu đều khiến chúng trở thành nang phức tạp, nguyên nhân có thể có nhiều.

Chuyển đổi ác tính ở nang vỏ thận. Chuyển đổi ác tính ở các nang vỏ thận cực kỳ hiếm. Các thành phần đặc ở vỏ nang, đôi khi sự tăng âm của chất chứa bên trong do chảy máu gợi ý chẩn đoán; chọc hút nang để xét nghiệm tế bào là thích đáng.

U nang thận dạng mô thượng thận (Cystic hypernephroma). U cũng hiếm gặp, nhưng một số u thân dạng mô thượng thân chứa các nang lớn. Tuy nhiên, u luôn kèm thành phần đặc khá lớn.

Malakoplakia (chứng nhuyễn cơ quan rỗng hay viêm mảng).

Malakoplakia làm thân to ra với các vùng giảm âm hoặc nhiều nang. Chẩn đoán gợi ý ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch.

Malakoplakia thận: Nhiều đám giảm âm ở một thận to.

Bệnh đa nang hai thận của người lớn

Bênh thận đa nang di truyền trội (ADPKD - Autosomal Dominant Polycystic Kidney Disease). Khác với nhiều nang thận ở người già, ADPKD là nguyên nhân gây nhiều nang ở người trưởng thành. Điển hình, hai thân to ra và đầy các nang kích thước khác nhau, thường có các nang gan kèm theo. Các nang thường xảy ra ở tụy, lách và hầu hết các tạng khác. Sự khó khăn trong chẩn đoán tăng lên với các bênh nhân trẻ chỉ thấy một ít nang trên siêu âm. Mặc dù nang vỏ thân đơn thuần có thể xảy ra ở người trẻ, có ba hoặc nhiều hơn các nang ở mỗi bên thận với bệnh nhân dưới 40 tuổi thì gợi ý chẩn đoán bênh thận đa nang di truyền trội. Chụp cắt lớp vi tính có thể phát hiện nhiều nang nhỏ hơn không thấy trên siêu âm. Với người lớn tuổi, sự phân biệt là khó vì gặp nhiều nang vỏ thân đơn thuần ở lứa tuổi này. Tiền sử gia đình và sự tổn tại của nang ở các tạng khác gợi ý ADPKD.

Bệnh thân đa nang di truyền trội. Thân to chứa đầy các nang kích thước khác nhau.

Biến chứng chủ yếu của ADPKD là suy thân, tăng huyết áp, chảy máu trong nang, và ít gặp là nhiễm khuẩn nang. Chảy máu và nhiễm khuẩn cùng biểu hiện bằng đau do tăng áp lực trong nang. Siêu âm cho thấy nang có thành phần bên trong tăng âm, chọc hút nang cho phép chẩn đoán và giảm đau.

Thân nhân tạo lâu ngày có tỷ lệ mắc tới 70%. các nang có kích thước biến đổi nhưng tương đối nhỏ nhưng nhìn rõ bằng siêu âm.

Bênh gan thận đa nang nguyên phát. Bệnh cũng có nhiều nang gan và cũng có thể có nhiều nang thân. Nó là một bệnh khác với ARPKD (xem dưới đây). Hình ảnh siêu âm thân tương tự với ARPKD, ngoại trừ có rất nhiều nang gan.

Bệnh đa nang hai thận ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ 

Bênh thận đa nang di truyền lặn (ARPKD- Autosomal Recessive Polycystic Kidney Disease). Bênh thân đa nang di truyền lăn ở trẻ nhỏ biểu hiên suy thân. Hai thân to ra, tăng mât đô âm kèm theo mất phân biệt tủy vỏ. Trong 50% trường hợp, có môt viền mật độ âm thấp hơn nằm ở ngoại vi của thận.

 ARPKD ở trẻ sơ sinh với thân to tăng âm điển hình, ngoại vi có viền giảm âm (mũi tên).

Tăng đậm độ âm ở trong ARPKD do các măt phân giới giữa các ống thân giãn dạng nang. Trong hầu hết các trường hợp, chúng quá nhỏ để nhìn rõ, cho dù môt số bệnh nhân có môt vài nang giãn to có thể nhìn thấy.

Trong bệnh này gan cũng bị ảnh hưởng

adv-content
Các bài viết liên quan