Hình ảnh u gan ác tính nguyên phát, thứ phát trên siêu âm bụng

Những hình ảnh bệnh lý ung thư gan nguyê phát và thứ phát chẩn đoán bằng siêu âm bụng.

Các U gan ác tính nguyên phát

Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC: hepatocellular carcinoma):

HCC là u ác tính nguyên phát hay gặp nhất, có biểu hiên triêu chứng lâm sàng và sinh học đa dạng. Thường xuất hiên trên người có bênh gan mạn tính như viêm gan mạn, viêm gan siêu vi trùng, xơ gan rượu. Tỷ lê alpha- foetoproteine trong máu cao trên người có HCC, tuy nhiên cũng có thể bình thường trong trường hợp ung thư nhỏ ở giai đoạn sớm.

HCC thường phát triển từ nốt loạn sản, có thể là dạng một khối đơn độc (50%), nhiều khối (40%) hoặc dạng thâm nhiễm (10%). Trên siêu âm, dạng khối có cấu trúc âm đa dạng (H.14,15,16), khối dưới 3 cm đường kính thường giảm âm đổng đều với tăng sáng phía sau. Khối lớn hơn, thường có cấu trúc tăng âm và không đổng đều do hoại tử và xơ hoá. Một vài HCC kích thước nhỏ có hình tăng âm đổng đều, làm khó chẩn đoán phân biêt với u máu. HCC dạng thâm nhiễm lan toả là những đám cấu trúc âm không đều, đôi khi kèm gan to không đều; dạng này thường khó phát hiên, nhất là trong trường hợp xơ gan tiến triển do nhu mô rất không đổng đều.

Trên Doppler, HCC thường có tín hiệu mạch ở quanh và trong khối với phổ dao động và liên tục có biên độ cao (khoảng 5KHz).

Siêu âm và Doppler còn giúp đánh giá mức độ xâm lấn của u, nhất là đánh giá xâm lấn vào các nhánh cửa (H.17).

Chẩn đoán dựa vào chẩn đoán hình ảnh, lâm sàng, sinh hoá (ứ mật, tăng alpha-foeto-protein..) và tế bào học. Chẩn đoán sớm rất quang trọng cho chỉ định ngoại khoa, nhất là HCC ở dạng một ổ kích thước nhỏ không có huyết khối tĩnh mạch cửa. Hoá trị liêu không có hiêu quả và quang tuyến điều trị không còn được áp dụng. Hiên nay đang được áp dụng phổ biến điều trị ung thư gan bằng phương pháp gây tắc động mạch gan hoặc nút bằng hoá chất trộn với lipiodol.

Có thể điều trị bằng phương pháp tiêm cồn dưới hướng dẫn của siêu âm điều trị với ung thư gan môt khối, nhưng chống chỉ định với khối nằm dưới bao gan.

CLVT: Trước tiêm, thường khó phân biệt với gan lành, có thể giảm tỷ trọng do hoại tử hoặc thoái hoá mỡ. Sau tiêm, hình ngấm thuốc mạnh và không đều ở thì đông mạch, sau đó đào thải thuốc nhanh ở thì tĩnh mạch cửa làm cho khối giảm tỷ trọng so với nhu mô xung quanh.

CHT: Trên T1 giảm hoặc đồng hoặc tăng tín hiệu; trên T2 tăng tín hiệu (mỡ) hoặc không đồng đều; ngấm thuốc mạnh ở ngoại vi sau tiêm.

Hình14: Ung thư biểu mô gan trên gan xơ có hình khối giảm âm

Hình16: Ung thư biểu mô gan không đổng đều (a,b), có hoại tử trung tâm (c).

Hình17: Ung thư biểu mô gan có huyết khối tĩnh mạch cửa, hình đậm âm trong thân TMC

(a), cả nhánh phải và trái (b).

U ác tính nguyên phát của gan hiếm gặp:

* Ung thư biểu mô gan xơ dẹt (fibrolamellar hepatocarcinoma): là một biến đổi mô học của HCC, gổm tế bào gan tân tạo xắp xếp thành những dải được ngăn cách bởi những lá xơ mỏng. Đó là u rất hiếm gặp, ít xâm lấn, thường gặp ở người trẻ không có biểu hiên bênh gan mạn tính, nổng độ alpha-foetoprotein trong máu bình thường. Tổn thương thường đơn độc, kích thước lốn và thường có sẹo trung tâm.

* U liên kết mạch (angiosarcoma): là một u mạch máu có tiên lượng tổi, gổm những đám chảy máu. Siêu âm không có hình ảnh đặc hiệu, đó là khối có kích thước lớn, khống đổng đều. CLVT, là môt khối giảm tỷ trọng với những vùng chảy máu, ngấm thuốc mạnh, ngoại vi và muôn, giả u máu.

* U nội mô mạch dạng biểu mô (epithelioidhemangioendothelioma): Là u hiếm gặp và thường ở người trưởng thành. Hình ảnh siêu âm khống đặc hiệu, trên CLVT là những nốt giảm tỷ trọng có ngấm thuốc ngoại vi. Có thể có vối hoá lan toả dạng chấm trong 1/3 trường hợp.

* Ung thư biểu mô tuyến nang (cystadenocarcinoma): tổn thương thoái hoá ác tính từ u tuyến nang (cystadenoma), là môt cấu trúc dịch mà thành dày có nốt sùi, các vách hoàn toàn hoặc khống hoàn toàn và đối khi chứa vẩn âm. Chẩn đoán doạn vào giải phẫu bệnh. Tiên lượng tốt hơn so với các u ác tính khác của gan, điều trị ngoại cắt bỏ cho kết quả tốt.

* Ung thư nguyên bào gan (hepatoblastoma): là u nguyên phát của gan thường gặp nhất ở trẻ em. Đó là u thường đơn đôc, bờ thuỳ giới hạn rõ, câu trúc đặc trong có những dải xơ, vối hoá thường thấy. CLVT thấy hình giảm tỷ trọng có ngấm thuốc sau tiêm.

* Lymphoma: thường biểu hiện gan to khống đặc hiệu, cấu trúc âm có thể bình thường hoặc những nốt giảm âm thường gặp nhiều ổ. Tổn thương thường phối hợp với biểu hiện của lách to và những hạch to giảm âm; hạch to giúp giợi ý nhiều đến bệnh.

Ung thư thứ phát của gan:

Di căn gan là hay gặp nhất trong u ác tính của gan. Ung thư nguyên phát thường gặp nhất của gan là: đại tràng (42%), dạ dày (23%), tuỵ (21%), vú (14%) và phổi (13%).

Về mặt mố học, khối gổm dày đặc tế bào và giầu mạch hoàn toàn khác với các tế bào nhu mô lành xung quanh.

Siêu âm là phương pháp cơ bản để phát hiện và theo dõi di căn gan của môt u nguyên phát. Cấu trúc âm của khối di căn rất thay đổi: Di căn tăng âm là hay gặp nhất (60%), di căn giảm âm (20%). Di căn có thể có hình “bia bắn” với trung tâm giảm âm, ngoại vi tăng âm, đối khi được bao quanh bởi viền giảm âm do nhu mô gan lành bị đè đẩy. Có thể có hình "mắt bò" với vùng trung tâm tăng âm bao quanh bởi quầng giảm âm. Di căn đổng âm hiếm gặp, thường khó xác định được giới hạn (H.20). Di căn âm không đổng đều với tăng âm của vôi hoá. Di căn có hoại tử trung tâm hoặc di căn dạng rỗng âm thành không đều. Di căn lan toả hoặc thâm nhiễm không đổng đều, thường khó chẩn đoán, nhất là trường hợp nhu mô gan nhiễm mỡ do điều trị hoá chất. Khối ở ngoại vi có thể thấy bờ gan lổi khu trú, dấu hiệu này có ích khi khối di căn đổng âm; khối ở trung tâm có thể đè đẩy hoặc chèn ép cấu trúc mạch máu và đường mật kế' cân (H.23). Số lượng di căn thay đổi và có thể phổi hợp giữa các di căn có cấu trúc âm khác nhau.

Mặc dù hình di căn trên siêu âm thường không đặc hiệu cho nguổn gốc u, nhưng một số đặc điểm của u di căn gan cũng có thể gợi ý đến u nguyên phát:

- Di căn tăng âm (H.18): Ung thư đại-trực tràng, ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư nguyên phát khác (carcinoma tế bào đảo tuỵ, carcinoid, choriocarcinoma, ung thư tế bào thận)

- Di căn giảm âm (H.19,24): Ung thư vú, ung thư phổi, lymphoma.

- Dạng “mắt bò” (H.18b) hoặc hình “bia bắn”: Ung thư phổi.

- Di căn vôi hoá (H.21): Ung thư tuyến nhày, các u ít gặp khác (sarcoma xương, sarcome sụn, teratocarcinoma, u nguyên bào thần kinh)

- Di căn dạng nang (H.22): Sarcoma hoại tử, cystadenocarcinoma buổng trứng và tuỵ, ung thư tiết nhầy của đại tràng.

- Di căn thâm nhiễm: Ung thư vú, ung thư phổi, melanoma ác tính.

Trên Doppler, tín hiệu mạch cũng rất thay đổi theo mức độ tưới máu và cấu trúc âm của di căn.

CLVT: Trước tiêm di căn thường giảm tỷ trọng, có thể thấy tăng tỷ trọng do xơ vôi hoá, chảy máu; sau tiêm cản quang di căn ngấm thuốc ngoại vi bờ đều nhưng không rõ, ở thì động mạch và tĩnh mạch cửa.

CHT: Trên T1 giảm tín hiệu, trên T2 tăng tín hiệu vừa phải; trên T1 có tiêm đối quang từ ngấm thuốc ở ngoại vi, trung tâm hoại tử-xơ ngấm muôn và viền ngoại vi có thể có hình ảnh quầng giảm tín hiệu.

Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Bạch Mai

adv-content
Các bài viết liên quan