Mê sảng

Mê sảng đại diện cho một sự suy giảm thực thể gây ra từ một mức độ đạt được của chức năng nhận thức.

Mê sảng là sự lẫn lộn nghiêm trọng, phát triển nhanh chóng và thường có cường độ thay đổi. Nó là một hội chứng phổ biến với một đặc điểm chính sau khi khởi phát các vấn đề cấp tính tâm thần kinh, có nghĩa là nó đã tồn tại từ vài giờ đến nhiều ngày, nhưng không phải hàng tháng hoặc hang năm. Mê sảng đại diện cho một sự suy giảm thực thể gây ra từ một mức độ đạt được của chức năng nhận thức. Mê sảng thường xuất hiện đột ngột với một thời gian dễ dàng nhận dạng sau khi khởi phát. Nó được đặc trưng bởi quá trình dao động, biến đổi chung và không kiểm soát nghiêm trọng của hành vi. Nó thường liên quan đến thiếu hụt nhận thức khác, những thay đổi trong kích thích (hiếu động, hypoactive, hoặc hỗn hợp), thiếu hụt nhận thức, chu kỳ ngủ-thức thay đổi, và các đặc tính tâm thần như ảo giác và ảo tưởng. Mê sảng chính nó không phải là một bệnh, mà là một hội chứng lâm sàng, là kết quả của một căn bệnh tiềm ẩn nào đó hoặc vấn đề mới với tâm thần.

 

Mê sảng có thể được gây ra bởi một quá trình bệnh ngoài não có ảnh hưởng đến não, chẳng hạn như nhiễm trùng (nhiễm trùng đường tiểu, viêm phổi) hoặc tác dụng của thuốc, đặc biệt là thuốc kháng cholinergic hoặc trầm cảm hệ thần kinh trung ương khác (benzodiazepin và thuốc phiện). Mặc dù ảo giác và ảo tưởng, đôi khi hiện diện trong mê sảng, nhưng không cần thiết cho việc chẩn đoán, và các triệu chứng mê sảng lâm sàng riêng biệt từ những người có biểu hiện bởi rối loạn tâm thần hoặc chất gây ảo giác. Biến động của tâm lý do những thay đổi trong quá trình biểu hiện tâm thần hoặc các bệnh như rối loạn tâm thần đột ngột từ tâm thần phân liệt hay rối loạn lưỡng cực thì không gọi là mê sảng.

Các biểu hiện triệu chứng

-Gia đình có thể đưa đi khám vì bệnh nhân lú lẫn hoặc kích động.

-Mê sảng có thể xuất hiện ở các bệnh nhân đang nằm viện vì các bệnh cơ thể.

-Bệnh nhân có thể không hợp tác khám bệnh hoặc sợ hãi.

Các đặc trưng để chẩn đoán

Khởi đầu cấp diễn với các biểu hiện:

-Lú lẫn (bệnh nhân trở nên bối rối, phải cố gắng mới hiểu được môi trường xung quanh).

-Sự nhận biết hoặc tư duy mù mờ. Thường kèm các biểu hiện sau:

+ Trí nhớ kém

+ Xáo trộn cảm xúc

+ Khó tập trung chú ý

+ Xa lánh, tách biệt với mọi người

+ Đa nghi

+ Kích động

+ Mất định hướng

+ Nghe tiếng nói bất thường

+ Các hình ảnh hay ảo tưởng

+ Rối loạn giấc ngủ (đảo ngược chu kỳ thức ngủ) 

+ Các triệu chứng thường phát triển nhanh chóng và có thể thay đổi từng giờ.

+ Có thể xuất hiện ở những người trước đó có hoạt động tâm thần bình thường hoặc ở những người đã sa sút trí tuệ.

+ Các stress nhẹ hơn (thuốc men, các nhiễm trùng nhẹ) cũng có thể gây ra mê sảng ở người già hoặc ở người đã sa sút trí tuệ.

Chẩn đoán phân biệt

Xác định và điều trị các căn nguyên cơ thể có thể gây ra lú lẫn như:

-Nhiễm độc rượu hay cai rượu hay cai rượu.

-Nhiễm độc hoặc cai các chất ma túy (gồm cả các thuốc được ghi đơn).

-Nhiễm trùng nặng.

-Các thay đổi chuyển hóa (ví dụ: bệnh gan, mất nước hạ đường máu).

-Chấn thương sọ não.

-Giảm oxy máu.

Nếu các triệu chứng đó tồn tại kéo dài, các hoang tưởng và rối loạn tư duy chiếm ưu thế trong bệnh cảnh; không tìm thấy các căn nguyên cơ thể, xem xét các Rối loạn thần cấp.

Các hướng dẫn quản lý bệnh nhân

Thông tin cơ bản cho bệnh nhân và gia đình

-Các hành vi hay ngôn ngữ kỳ lạ … đều là các triệu chứng của bệnh.

Tư vấn cho bệnh nhân và gia đình

-Tiến hành các biện pháp đề phòng để bệnh nhân khỏi gây thương tổn cho bản thân và người khác (ví dụ: loại bỏ các vật dụng có thể gây nguy hiểm hoặc đưa vào phòng riêng nếu cần thiết).

-Sự giao tiếp trợ giúp của những người quen có thể giúp làm giảm lú lẫn.

-Nhắc nhở thường xuyên về thời gian, nơi bệnh nhân đang ở để làm giảm lú lẫn của bệnh nhân.

-Có thể phải đưa bệnh nhân vào nằm viện khi bị kích động hoặc có các bệnh lý cơ thể gây ra mê sảng.

Thuốc

-Tránh dùng các thuốc an thần hoặc gây ngủ (ví dụ: Benzodiazepine) ngoại trừ để điều trị hội chứng cai rượu hay cai các thuốc yên dịu.

-Đôi khi có thể phải sử dụng các thuốc chống loạn thần với liều thấp (ví dụ: Haloperdol 0,5 – 1 mg một hoặc hai lần trong ngày) để điều trị các biểu hiện kích động, tấn công hoặc các triệu chứng loạn thần. Coi chừng các tác dụng phụ do thuốc (các triệu chứng giống Parkinson, các tác dụng kháng cholinergic) và sự tương tác thuốc.

Khám chuyên khoa

Cần đến khám chuyên khoa khi:

-Các bệnh lý cơ thể đòi hỏi phải điều trị chuyên khoa.

-Kích động chưa kiểm soát được.

Điều trị của mê sảng đòi hỏi phải điều trị nguyên nhân cơ bản (s). Trong một số trường hợp, các phương pháp điều trị tạm thời hoặc giảm nhẹ triệu chứng được sử dụng để an ủi bệnh nhân hoặc cho phép quản lý bệnh nhân tốt hơn. Mê sảng có lẽ là rối loạn cấp tính phổ biến nhất duy nhất ảnh hưởng đến người lớn trong các bệnh viện đa khoa. Nó ảnh hưởng đến 10-20% của tất cả người lớn nhập viện, và 30-40% bệnh nhân cao tuổi nhập viện và lên đến 80% bệnh nhân ICU. Ở những bệnh nhân ICU hoặc ở những bệnh nhân khác đòi hỏi phải chăm sóc quan trọng, mê sảng không phải là chỉ đơn giản là một rối loạn não cấp tính nhưng trên thực tế là một sự báo hiệu khả năng lớn hơn nhiều của tử vong trong vòng 12 tháng theo sau xuất viện của bệnh nhân ICU

adv-content