Điều trị dự phòng tai biến mạch não: dịch tễ, yếu tố nguy cơ (phần 1)

Tai biến mạch não là một nhóm bệnh khá phổ biến trên toàn thế giới với tần suất 0,2% trong nhân dân, phần lớn gặp ở người cao tuổi.

Tai biến mạch não là một nhóm bệnh khá phổ biến trên toàn thế giới với tần suất 0,2% trong nhân dân, phần lớn gặp ở người cao tuổi. Bệnh lý này là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba sau các bệnh tim - mạch và ung thư, gây tàn tật hàng đầu trong các bệnh thần kinh. Tuy nhiên, tai biến mạch não có thể phòng tránh được nếu biết giải quyết sớm các yếu tố nguy cơ gây bệnh. Mặt khác nếu phát hiện kịp thời và xử trí đúng các biểu hiện lâm sàng là các cơn đột quỵ não, có thể giảm tử vong và hạn chế các di chứng do tai biến mạch não gây ra.

1. Vấn đề dịch tễ học

1.1 .Tỉ lệ bệnh mới phát hiện hàng năm là 200/100.000 người

Ở lứa tuổi từ 30 đến 40 tỉ lệ đó là 30/100.000 người; còn trên 85 tuổi là 3.000/100.000

người.

Theo Y văn cho biết có tới ¼ số bệnh nhân mang di chứng sau khi được cứu sống và mộtnửa số bệnh nhân đó có thể bị tàn tật vĩnh viễn.

Ở Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 700.000 người mắc tai biến mạch não và có tới 150.000 trường hợp tử vong (Goldszmitd AJ và Caplan LR, 2010). Ở Pháp, hàng năm có khoảng 130.000-140.000 trường hợp mắc mới;  tỉ lệ toàn bộ là 4.6/1000 người (Wolf MA, 1994).

1.2 .Ở Việt Nam hiện chưa có số liệu thống kê trong cả nước

Tổng hợp 10 công trình nghiên cứu gần đây cho thấy từ năm 2000 đến năm 2010 đã có 18.195 bệnh nhân vào 10 bệnh viện ở cả ba miền vì bệnh mạch não. Bệnh nhân nam trên 65 tuổi chiếm đa số. Trong các bệnh nói trên có 12.104 trường hợp nhồi máu não (tỉ lệ 66.5%), 5.764 trường hợp chảy máu não (31.6%), 255 trường hợp chảy máu dưới nhện (1.4%) và 75 trường hợp không xác định rõ thể bệnh (0.3%)

Tại trung tâm Đột quỵ Não Bệnh viện TW Quân Đội 108, từ năm 2003 đến năm 2008 đã có 2.196 bệnh nhân vào viện vì bệnh mạch não. Bệnh nhân nam chiếm tỉ lệ 61%, bệnh nhân nữ 39% và 60% các trường hợp là người trên 60 tuổi. Đáng chú ý là trong số bệnh nhân trên, chỉ 1.5% được đưa tới bệnh viện trong vòng 3 giờ đầu sau khi bệnh khởi phát: 10.3% tới trong 6 giờ đầu; 89.7% tới sau 24 giờ và 39.5% tới sau 72 giờ (Nguyễn Văn Thông và cs, 2011)

2. Tai biến mạch não và yếu tố nguy cơ

2.1 .Định nghĩa

Theo Warlow CP và cs (2000), “tai biến mạch não là một hội chứng lâm sàng có đặc điểm là mất cấp tính chức năng cục bộ của não kéo dài hơn 24 giờ hoặc sớm dẫn đến tử vong do chảy máu tự phát vào trong hoặc trên chất trắng hoặc do cung ứng máu không đủ đối với một phần của não, là hậu quả của dòng máu lưu thông chậm, huyết khối hoặc tắc mạch kết hợp với bệnh của mạch máu, tim hoặc máu”.

Như vậy, tai biến mạch não không phải là một tai nạn mà là một biến cố (sự cố) gây tai họa (tổn thương xâm phạm) cho mạch mạch máu của não. Tai biến mạch não là mọt sự cố mạch máu thứ phát sau các bệnh thực sự của các mạch máu não. Tai biến mạch não không chỉ là một bệnh mà đúng hơn bao gồm nhiều bệnh dẫn đến tắc một mạch máu gây cản trở cung ứng máu cho một diện của não hoặc dẫn đến chảy máu vào trong hoặc quanh não.

Thực tế cho thấy hai thể lâm sàng thường gặp là nồi máu não với tỷ lệ từ 75 đến 85% các trường hợp và chảy máu não với tỉ lệ từ 15 đến 25% các trường hợp. Tai biến mạch não thường khởi phát với cơn đột quỵ não là một triệu chứng xảy ra bất chợt, thoáng qua, nhất thời với các biểu hiện liên quan đến ý thức, vận động, cảm giác, ngôn ngữ, giác quan và thực vật. Cơn đột quỵ não diễn ra trong một thời gian ngắn từ vài phút đến vài giờ còn bệnh mạch não (tai biến mạch não) là một quá trình tiến triển qua nhiều giai đoạn.

2.2 .Yếu tố nguy cơ

Như vậy có nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau gây tai biến mạch não bao gồm:

· Yếu tố nguy cơ không thể biến đổi được

Theo y văn, các yếu tố này là:

Tuổi (đặc biệt sau 55 tuổi): tỉ lệ mắc bệnh theo thứ tự từ cao đến thấp là người cao tuổi, trung niên, người trẻ tuổi, trẻ em.

Giới tính nam thường có tỉ lệ cao hơn nữ.

Về chủng tộc, người Mỹ gốc Phi mắc nhiều hơn người châu Á hoặc Tây Ban Nha, thấp nhất ở người da trắng.

Trong khu vực địa lý, tỉ lệ bệnh ở châu Á cao hơn ở châu Âu hoặc Bắc Mỹ, ở Đông Âu cao hơn ở Tây Âu, ở khu cực Đông - Nam Hoa kỳ cao hơn ở các vùng khác.

Yếu tố gia đình: tiền sử gia đình của bệnh nhân có người mắc tai biến mạch não hoặc bệnh tim.

· Yếu tố nguy cơ có thể biến đổi được

Nhóm này gồm nhiều bệnh lý như:

Tăng huyết áp (49% trong số này có thể gây tai biến mạch não).

Đái tháo đường týp 1 hoặc týp 2(thường gặp ở 15-33 % các trường hợp thiếu máu não cục bộ).

Rối loạn lipid máu kể cả tăng cholesterol toàn phần, tăng cholesterol lipoprotein tỉ trong thấp (LDL) và giảm cholesterol lipoprotein tỉ trọng cao (HDL)

- Tăng homocystein máu.

- Nghiện thuốc lá

- Nghiện rượu

- Lạm dụng thuốc

- Rung nhĩ: rung nhĩ đơn thuần có tỉ lệ mắc tai biến mạch  não là 1% mỗi năm; nếu kèm theo bệnh tim khác, tỉ lệ là 6% mỗi năm.

- Cơn thiếu máu não thoáng qua: tai biến mạch não có thể xảy ra với tỉ lệ 10% tribg băn đầy và 5% mỗi năm trong 5 năm kế tiếp.

- Sử dụng thuốc uống ngừa thai

- Phụ nữ có thai

- Đau nửa đầu

- Sử dụng liệu pháp nội tiết tố sau mãn kinh

- Có bệnh nhiễm khuẩn mạn tính.

- Tình trạng béo phì

- Người ít hoạt động thể lực

· Yếu tố nguy cơ gây thiếu máu não cục bộ

Vì tai biến mạch não bao gồm một nhõm bệnh mạch não không đồng nhất nên các yếu tố nguy cơ dẫn đến hoặc làm tăng nguy cơ gây cơn đột quỵ não cũng khác nhau. Riêng đối với thiếu máu não cục bộ, cần chú ý đến năm nhóm lớn dưới đây là:

Xơ vữa động mạch lớn: hẹp tác động mạch cảnh trên mức 70% nếu không có triệu chứng thần kinh có thể dẫn đến thiếu máu não cục bộ với tỉ lệ khoảng 3% mỗi năm. Nếu có triệu chứng thần kinh, tỉ lệ đó sẽ là 12-15% mỗi năm.

Bệnh tác động mạch nhỏ (ổ khuyết)

Nghẽn mạch tim

Bệnh van tim không do sơ vữa

Rối loạn đông máu

Benh.vn (Gs. Lê Đức Hinh - BV Bạch Mai)

Mời đón xem tiếp Phần 2 ......

adv-content