I

INTERFERON BETA

Tên chung quốc tế: Interferon beta.

Loại thuốc: Chất điều hòa miễn dịch.

Dạng thuốc và hàm lượng

Interferon beta – 1a bột để pha tiêm: Lọ 33 microgam (6,6 triệu đơn vị quốc tế) kèm theo dung dịch để pha tiêm bắp.

Interferon beta – 1b, bột để pha tiêm: Lọ 300 micro-gam (9,6 triệu đơn vị quốc tế) kèm theo dung dịch để pha tiêm dưới da.

Cơ chế tác dụng

Interferon là một họ protein có trong tự nhiên, trọng lượng phân tử khoảng từ 15.000 đến 21.000 dalton. Ðã xác định được ba nhóm interferon chính, alpha, beta và gamma. Interferon beta được tạo ra bởi nhiều loại tế bào khác nhau, như nguyên bào sợi và đại thực bào. Interferon beta – 1a và interferon – 1b được sản xuất bằng công nghệ tái tổ hợp DNA. Trình tự acid amin của interferon beta – 1a giống như của interferon beta tự nhiên của người. Interferon beta – 1b không có mạch nhánh carbohydrat thấy trong interferon tự nhiên. Interferon beta được sử dụng cho người bệnh xơ cứng rải rác thuyên giảm, có tái phát (đặc điểm là có ít nhất hai cơn rối loạn thần kinh trong vòng hai năm trước đó kèm theo phục hồi hoàn toàn hoặc không hoàn toàn) mà vẫn có thể đi lại không cần giúp đỡ. Thuốc được chỉ định để giảm tần số và mức độ nặng của các lần tái phát lâm sàng. Interferon beta thể hiện tác dụng sinh học bằng cách gắn vào những thụ thể đặc hiệu trên bề mặt của các tế bào người. Sự gắn kết này khởi động cho một loạt sự kiện phức tạp trong tế bào dẫn đến thể hiện nhiều sản phẩm gen và chất chỉ thị do interferon gây nên. Những chất này được coi là những chất trung gian của các tác dụng sinh học của interferon beta.

Cơ chế tác dụng của interferon beta trong bệnh xơ cứng rải rác chưa được biết rõ.

Dược động học

Dược động học và độ khả dụng sau khi tiêm bắp và dưới da khác nhau giữa các loại thuốc. Sau khi tiêm bắp interferon beta – 1a, nồng độ cực đại (được xác định bằng hoạt tính chống virus in – vitro tối ưu) đạt được trong khoảng 5 – 15 giờ sau dùng thuốc. Rồi hoạt tính giảm dần, với nửa đời khoảng 10 giờ.

Sinh khả dụng khi tiêm bắp cao gấp 3 lần sinh khả dụng khi tiêm dưới da. Interferon beta – 1a không được tiêm dưới da. Ðiều này ngược với các loại và dạng khác của interferon. Bởi vậy cần phải đọc rất cẩn thận tờ hướng dẫn thuốc đóng kèm trong hộp thuốc.

Sau khi tiêm dưới da một lần hoặc nhiều lần liều 0,5 mg/ngày interferon beta – 1b cho người tình nguyện khoẻ mạnh, nồng độ interferon beta – 1b trong huyết thanh thường dưới 100 đvqt/ml. Nồng độ đỉnh interferon beta – 1b trong huyết thanh đạt được trong khoảng 1 đến 8 giờ, với nồng độ đỉnh trung bình của interferon là 40 đvqt/ml.

Chỉ định

Interferon beta – 1a: Ðiều trị dạng tái phát của bệnh xơ cứng rải rác, để làm chậm tàn phế thêm và làm giảm số lần nặng lên của bệnh.

Interferon beta – 1b: Ðược chỉ định để làm giảm số lần bệnh nặng lên ở người bệnh ngoại trú xơ cứng rải rác thuyên giảm có tái phát.

Chống chỉ định

Quá mẫn với các loại interferon tự nhiên và tái tổ hợp; quá mẫn với albumin huyết thanh người hoặc các thành phần khác của chế phẩm. Có thai.

Người bệnh trầm cảm nặng và/hoặc có ý định tự vẫn; người bệnh có tiền sử động kinh mà không thể điều trị và kiểm soát được một cách chặt chẽ.

Thận trọng

Chưa có thông báo nào về điều trị interferon cho người bệnh dưới 16 tuổi, vì vậy không được dùng interferon beta cho trẻ em. Cũng cần thấy rằng kinh nghiệm điều trị bằng interferon beta dài ngày vẫn còn chưa nhiều, vì vậy điều đặc biệt quan trọng là phải theo dõi chặt chẽ người bệnh để đề phòng những phản ứng không mong muốn.

Ðiều quan trọng là phải thông báo cho người bệnh về các tác dụng phụ trong khi điều trị, kể cả các triệu chứng giả cúm. Các triệu chứng này thường rõ nhất khi bắt đầu điều trị và giảm dần trong quá trình điều trị.

Người có tiền sử bệnh thần kinh, đặc biệt là có co giật và bệnh động kinh, thì cần phải theo dõi rất chặt chẽ và có thể cần phải có biện pháp điều trị để điều chỉnh cho được bệnh động kinh trong thời gian thực hiện điều trị bằng interferon.

Ðã có tài liệu nói rằng interferon có thể thúc đẩy trầm cảm và thậm chí cả ý định tự tử ở người bệnh có xu hướng phát triển trầm cảm. Nguy cơ này cũng thường tăng lên trong số các người bị bệnh xơ cứng rải rác. Bác sỹ điều trị phải khám xét cẩn thận triệu chứng trầm cảm, nếu có thì phải điều trị một cách thích hợp, kể cả việc ngừng sử dụng interferon.

Người bệnh suy giảm nặng chức năng thận và/hoặc gan và người bệnh có tiền sử suy tủy cần được chú ý đặc biệt về liều lượng và các nguy cơ tác dụng phụ trong quá trình điều trị.

Người bệnh có bệnh tim mạch như cơn đau thắt ngực, suy tim mạn hoặc loạn nhịp tim phải được theo dõi chặt chẽ chức năng tim, vì có thể có nguy cơ làm các bệnh đó nặng lên trong thời gian sử dụng interferon beta. Bản thân hội chứng giả cúm có thể làm tăng và làm trầm trọng các triệu chứng ở người bệnh có tiền sử bệnh tim.

Người bệnh tạo kháng thể chống lại interferon, bởi vậy (kháng thể trung hòa), ở một số người bệnh được điều trị hoạt lực của interferon beta có thể bị giảm. Các kháng thể trung hòa làm giảm hoạt lực sinh học của interferon beta. Có nguy cơ kháng thể trung hòa đạt mức cao không đổi (hình cao nguyên) sau 12 tháng điều trị. Các tài liệu theo dõi người bệnh điều trị được 2 năm cho thấy khoảng 8% các người bệnh có xuất hiện kháng thể trung hòa.

Thời kỳ mang thai

Chống chỉ định interferon beta cho người mang thai vì nguy cơ tiềm tàng cho thai nhi. Chưa có nghiên cứu về điều trị interferon beta cho người mang thai. Sử dụng liều cao cho khỉ Rhesus gây ra sẩy thai. Trong khi chưa có số liệu nghiên cứu trên người thì điều này có nghĩa là cũng có nguy cơ tương tự cho người. Phụ nữ ở tuổi sinh đẻ nên kiểm tra để xác định không có thai trước khi bắt đầu sử dụng interferon beta và phải uống thuốc ngừa thai trong thời gian điều trị.

Nếu người bệnh mang thai ngay trong thời kỳ đang điều trị, nên ngừng interferon và không được bắt đầu lại cho đến khi đẻ.

Thời kỳ cho con bú

Còn thiếu thông tin về nồng độ interferon trong sữa.

Do có tiềm năng gây các phản ứng phụ nặng ở trẻ em, nên khuyến cáo hoặc phải ngừng cho con bú, hoặc phải ngừng điều trị bằng interferon beta cho đến khi thôi cho con bú.

Tác dụng không mong muốn (ADR)

Trầm cảm và tự vẫn đã được thông báo như là những tác dụng không mong muốn, đó là lý do để phải hết sức thận trọng đối với người có tiền sử bị trầm cảm.

Các phản ứng phụ phổ biến nhất khi điều trị bằng interfe

Sản phẩm cùng công dụng