Điều trị bệnh viêm gan virus C mạn tính

Điều trị sớm và tiệt trừ virus viêm gan C là điều mong muốn để ngăn ngừa lây nhiễm và giảm nguy cơ bệnh tiến triển.

Điều trị sớm và tiệt trừ virus viêm gan C là điều mong muốn để ngăn ngừa lây nhiễm và giảm nguy cơ bệnh tiến triển.

Có hai mục tiêu điều trị:

- Chữa khỏi nhiễm trùng bằng cách tiệt trừ virus: được xác định khi không thể phát hiện virus viêm gan C trong huyết thanh bằng phương pháp PCR 6 tháng sau khi hoàn tất điều trị (được định nghĩa là đáp ứng virus kéo dài hoặc Sustained Virological Response – SVR)

- Trì hoãn hoặc làm ngừng tiến triển bệnh: được xác định bởi tác dụng làm ngừng hoặc giảm mức độ tổn thương gan (xơ hóa và viêm), ngay cả khi không đạt được tình trạng tiệt trừ virus.

- Điều trị viêm gan virus C được chỉ định rõ ràng ở bệnh nhân trưởng thành có các tiêu chuẩn sau:

+ Nồng độ ALT tăng liên tục

+ HCV RNA trong huyết thanh

+ Bằng chứng viêm gan mạn (được phát hiện bởi các thủ thuật không gây tổn thương và có làm tổn thương), kèm xơ hóa, viêm trung bình hoặc xơ gan còn bù.

Hiện nay cộng đồng y khoa đang cân nhắc tính thích hợp của việc điều trị những bệnh nhân ngoài khoảng tuổi 18 đến 60. Trước khi bắt đầu điều trị nên đánh giá động cơ của bệnh nhân (và động cơ của bạn bè và gia đình). Cân nhắc các yếu tố của người nhiễm (như chất lượng của cuộc sống, bệnh khác kèm theo và các yếu tố của virus) khi quyết định điều trị, những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến tỷ số nguy cơ/ hiệu quả đối với từng cá nhân.

Điều trị đã được phê chuẩn

Đối với viêm gan virus C liệu pháp điều trị duy nhất đã được xác nhận bao gồm việc sử dụng đồng thời hai thuốc: interferon và ribavirin.

INTERFERON

Interferon là một cytokine tự nhiên được sản xuất bởi các tế bào một khi chúng bị nhiễm virus. Cytokine tiêm dưới da có hoạt tính kháng virus mạnh chống lại HCV.

Có hai dạng intrferon sẵn có:

+ Interferon thông thường

Hiện nay đối với viêm gan virus C mạn, điều trị được phép là dựa vào việc sử dụng loại protein kháng virus là Interferon-alpha người tái tổ hợp, hoặc dẫn xuất của nó. Việc sử dụng interferon thông thường cho mục đích này được mô tả lần đầu năm 1986 và cần phải tiêm dưới da ba lần mỗi tuần. Chế độ điều trị này cho tỷ lệ đáp ứng virus kéo dài chỉ từ 12-16%

+ PEG hóa interferon

Điều trị tiến bộ hơn đã đạt được với interferon cải tiến polyethylene-glycol (PEG) hoặc PEG hóa interferon. Phân tử PEG là một chất trơ được sử dụng để làm tối ưu hóa hoạt tính dược lý của thuốc.

Việc gắn thêm nhóm PEG vào interferon làm kéo dài thời gian tồn tại của nó trong vòng tuần hoàn, chỉ cần dùng thuốc một lần một tuần, thay vì ba lần (như đã đòi hỏi với dạng interferon thông thường, không cải tiến).

Mức độ tối ưu phụ thuộc vào đặc điểm của từng sản phẩm và có thể thay đổi tùy theo cấu trúc của PEG, độ bền của liên kết gắn PEG với interferon và số vị trí gắn PEG với interferon. Vì vậy, tùy kỹ thuật pegylate hóa được sử dụng, các sản phẩm khác nhau có thể tạo ra những sự khác biệt không những về cách sử dụng như thế nào mà còn về các đặc tính điều trị của chúng.

Những ưu điểm của protein pegylate hóa sử dụng PEG nhanh, lớn hơn so với PEG thẳng, nhỏ hơn đã được chứng minh và có thể được tóm tắt dưới đây. Các PEG lớn có phân nhánh có các tác dụng:

 - Bảo vệ khỏi bị phân giải protein tốt hơn

- Giảm tính tạo miễn dịch

- Giảm độ thanh lọc khỏi cơ thể

- Độ lọc của thận chậm hơn

- Hiệu quả cải thiện do tăng nồng độ thuốc và tăng thời gian tại vị trí tác động

Loại kỹ thuật pegylate hóa được sử dụng cũng liên quan đến các đặc tính khác nhau của interferon mà có thể thấy ở hai loại pegylated interferon:

PEGSYS®, pegylated interferon 40KD lớn hơn có nhanh, có mối liên kết gắn PEG với interferon rất bền và được làm ổn định hơn nhờ gắn kết với các phân tử nước. Sản phẩm này có sẵn như là một dung dịch dùng ngay.

PEG gắn với PEG-INTRON® có mối liên kết yếu hơn và không thể để trữ thuốc dưới dạng dung dịch, vì vậy cần phải pha thuốc trước khi tiêm. Phân tử interferon bị giáng hóa và thải trừ dễ dàng hơn phân tử PEGASYS 40KD có nhánh.

Pegylated ingerferon (PEG-INTRON®) nhỏ hơn, có thể tính phân phối rộng hơn vì nó phân phố khắp cơ thể một cách dễ dàng (vào trong mô và các cơ quan). Vì vậy, trọng lượng cơ thể càng nặng hơn càng cần nhiều thuốc hơn. Do đó, pegylated interferon này cần được cho liều tùy theo cân nặng.

Pegylated ingerferon (PEGSYS®) lớn hơn, có thể tích phân phối hạn chế và bị giữ lại trong huyết tương và chỉ phân phối vào các cơ quan được tưới máu tốt, như gan. Vì vậy, PEGASYS ® có kiều cố định không kể đến cân nặng.

Khi kê đơn PEGASYS hoặc PEG-INTRON điều quan trọng là sử dụng đúng liều đã được khuyến nghị. PEG-INTRON cần phải cho liều theo cân nặng. PEGASYS cho liều cố định (180mcg).

Interferon có các tác dụng phụ ảnh hưởng đến bạch cầu đa nhân trung tính và tiểu cầu và có thể làm nặng thêm các bệnh tâm thần và tuyến giáp có sẵn. Cần theo dõi thường xuyên bạch cầu đa nhân trung tính và tiểu cầu của bệnh nhân, mức độ trầm cảm và chức năng tuyến giáp. Cần điều chỉnh liều interferon trước khi ngưng điều trị.

Interferon cũng có thể làm xấu đi các vấn đề về mắt (như bệnh võng mạc). Nên kiểm tra thường xuyên để phát hiện bệnh võng mạc trước và trong khi điều trị.

RIBAVIRIN

Ribavirin (COPEGUS® hoặc REBETOL ®) là một đồng phân nucleoside có hoạt tính rộng kháng nhiều loại virus DNA lẫn RNA. Ribavirin được cho uống hai lần mỗi ngày. Phương thức hoạt động chống HCV chưa rõ nhưng các nghiên cứu chứng minh rằng thuốc cải thiện đáp ứng virus của trị liệu interferon (thông thường hoặc pegylated interferon) khi được sử dụng phối hợp. Ribavirin cũng cải thiện hiệu quả của interferon, làm giảm nguy cơ tái phát. Nếu dùng đơn trị, ribavirin không có khả năng làm sạch HCV.

Đối với những kiểu di truyền khó điều trị hơn (các kiểu di truyền 1,4,5 và 6), để đạt liều tối ưu, liều ribavirin nên được cho tùy theo cân nặng.

+ Người dưới 75kg cần 1000mg ribavirin mỗi ngày

+ Người trên 75kg cần 1200mg ribbavirin mỗi ngày.

Đối với người bị kiểu di truyền 2 hoặc 3 liều ribavirin được đề nghị là 800mg mỗi ngày.

Ribavirin gây thiếu máu tán huyết và cần theo dõi thường xuyên nồng độ haemoglobin ở những người điều trị. Liều ribavirin nên giảm theo tiến trình bậc thang hơn là ngừng điều trị toàn toàn vì nồng độ haemoglobin có thể cải thiện. Xem tờ thông tin sản phẩm có trong hộp thuốc về những thay đổi liều đã được khuyến nghị.

Interferon, và nhất là ribavirin, có thể gây khiếm thuyết thai, vì vậy tránh có thai trước, trong và 6 tháng sau khi điều trị là quan trọng. Ở phụ nữ, điều trị nên bắt đầu khi đã xác định thử nghiệm thai âm tính.

Thời gian điều trị:

- Thời gian điều trị được xác định bởi kiểu di truyền: kiểu di truyền 1,4,5 và 6 cần điều trị interferon và ribavirin 48 tuần.

- Kiểu di truyền 2 và 3 chỉ cần điều trị interferon và ribavirin 24 tuần.

Tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị

Mức độ tuân thủ của bệnh nhân ảnh hưởng quyết định đến sự thành công của việc điều trị HCV. Các thầy thuốc nên thảo luận tầm quan trọng của việc tuân thủ với bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị. Nên đánh giá bệnh nhân thường xuyên trong suốt thời gian điều trị về những vấn đề có thể xảy ra đối với việc tuân trị. Cần có hành động để xử lý chủ động các tác dụng phụ, trầm cảm và lạm dụng thuốc.

Bệnh nhân nên được khuyến cáo rằng họ có cơ hội chữa khỏi bệnh tốt nhất chỉ khi họ thực hiện điều trị chính xác như đã được kê toa và trong thời gian đầy đủ. Bảng “Thời gian biểu hàng ngày” PEGASSIST có giá trị cho việc sử dụng của bệnh nhân. Lập kế hoạch gày được thiết kế để giúp theo dõi sự tuân thủ của bệnh nhân và tiến triển trong việc chống lại bệnh.

Nói chung, một bệnh nhân được hướng dẫn giải thích tốt, được giám sát bởi một đội chăm sóc chu đáo và thông thạo, sẽ có cơ hội tuân thủ và hoàn thành điều trị tốt hơn nhiều và vì vậy có cơ hội chữa khỏi bệnh nhiều hơn.

Khi nào điều trị là không thích hợp

Điều trị kết hợp pegylated interferon và ribavirin là phương án điều trị hiệu quả nhất. Tuy nhiên, đối với một số người, việc điều trị phối hợp có thể chống chỉ định vị những bệnh đi kèm.

Chống chỉ định sử dụng interfeton và ribavirin trong các trường hợp sau:

- Quá mẫn cảm với interferon-α

- Quá mẫn cảm với ribavirin

- Bị viêm gan tự miễn (gồm phản ứng viêm tại gan do các tế bào miễn dịch nhầm lẫn trong việc phân biệt các tế bào gan bình thường đối với mô lạ hoặc mầm bệnh)

- Bị rối loạn chức năng gan nặng hoặc bệnh gan mất bù

- Bị tâm thần có từ trước hoặc tiền sử rối loạn tâm thần nặng

- Bệnh tim từ trước, gồm cơn đau thắt ngực không ổn định, hoặc bệnh tim không kiểm soát được

- Bị bệnh haemoglobin (có thể đơn trị liệu interferon)

Điều trị cũng gây khiếm khuyế thai vì thế không được tiến hành cho bất cứ bệnh nhân nào dự định hoặc có thai. Áp dụng biện pháp tránh thai một cách hiệu quả trong và 6 tháng sau khi điều trị nếu bệnh nhân đang ở tuổi mang thai.

Vì những lý do cá nhân/xã hội, bạn và bệnh nhân của bạn có thể quyết định rằng hiện tại không phải là thời điểm tốt để điều trị. Đôi khi nên trì hoãn điều trị nếu bệnh nhân đang đối mặt với những biến động lớn trong cuộc sống của họ (như sáp phẫu thuật, việc làm mới, kết hôn hoặc ly hôn…), những biến động này có thể khiến cho việc điều trị liên tục gặp nhiều khó khăn.

Benh.vn

 

adv-content