Ảnh hưởng của tuổi tác tới khả năng sinh sản của phụ nữ

Khả năng sinh sản của phụ nữ giảm dần theo tuổi. Ở phụ nữ trên 35 tuổi khả năng có thai giảm nhiều, các tai biến khi mang thai và sinh nở cao hơn.

Khả năng sinh sản của phụ nữ giảm dần theo tuổi. Ở phụ nữ trên 35 tuổi khả năng có thai giảm nhiều, các tai biến khi mang thai và sinh nở cao hơn. Trẻ sinh ra từ bà mẹ lớn tuổi, trên 35 tuổi, có tỉ lệ dị tật, tỉ lệ bất thường về phát triển tâm sinh lý cao hơn trẻ bình thường. Người ta thấy rằng khả năng có thai giảm và tỉ lệ bất thường ở trẻ sinh ra tăng ở phụ nữ lớn tuổi chủ yếu do sự suy giảm chức năng của buồng trứng theo thời gian. Đồng thời các nhà khoa học cho rằng về mặt sinh lý, phụ nữ có thai và sinh đẻ tốt nhất vào tuổi từ 19 - 29 tuổi.

Ảnh hưởng của tuổi người phụ nữ  lên kết quả kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI)

Kết quả điều trị kỹ thuật IUI tại Khoa Hiếm muộn Bệnh viện Phụ Sản năm 2001 cho thấy tỉ lệ có thai cao nhất ở nhóm nhỏ hơn 25 tuổi và chỉ thay đổi ít từ trên 25 đến 30 tuổi. Trong khi đó, tỉ lệ có thai giảm rõ rệt khi phụ nữ bắt đầu trên 35 tuổi. Khả năng thành công tiếp tục giảm dần sau đó và xuống rất thấp khi người phụ nữ trên 40 tuổi.

Ngoài ra, phụ nữ trẻ tuổi thường sử dụng ít thuốc để kích thích buồng trứng hơn, chi phí điều trị thấp hơn. Một số phụ nữ trẻ tuổi, có thể có thai khi bơm tinh trùng với chu kỳ tự nhiên, không cần kích thích buồng trứng.

Ảnh hưởng của tuổi người phụ nữ lên kết quả kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) và ICSI

Với các trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm, tỉ lệ có thai đạt xấp xỉ 50% đối với bệnh nhân từ 30 tuổi trở xuống. Tỉ lệ này giảm chỉ còn khoảng 20% nếu bệnh nhân vượt quá 35 tuổi. Không có bệnh nhân nào trên 45 tuổi có thai.

Tỉ lệ có thai cũng giảm rõ rệt theo tuổi vợ đối với các trường hợp ICSI. Với những trường hợp từ 30 tuổi trở xuống khả năng có thai sau mỗi lần điều trị là 50%. Khả năng có thai giảm xuống dưới 20% nếu bệnh nhân trên 40 tuổi.

Các trường hợp người vợ lớn tuổi còn gặp một số bất lợi khác khi điều trị thụ tinh trong ống nghiệm và ICSI do:

- Phụ nữ lớn tuổi có tỉ lệ sảy thai và sinh non cao hơn dẫn đến tỉ lệ có con sống, khỏe mạnh về sau còn giảm hơn nhiều.

- Phụ nữ lớn tuổi có tỉ lệ đáp ứng kém với thuốc, phải ngưng điều trị cao hơn. Tỉ lệ có thai trên chỉ tính trên các trường hợp có chuyển phôi, nếu tính tổng cộng trên các trường hợp ban đầu, tỉ lệ này còn thấp hơn.

- Phụ nữ lớn tuổi cần tiêm số lượng thuốc nhiều hơn để kích thích buồng trứng, dẫn đến chi phí cho một lần điều trị có thể tăng lên gấp đôi.

- Phụ nữ lớn tuổi khi đi điều trị vô sinh thường gặp nhiều bất lợi khi chi phí cao, tỉ lệ thành công thấp. Khi có thai, tỉ lệ tai biến, biến chứng khi mang thai và khi sinh tăng, đồng thời tỉ lệ trẻ sinh ra bất thường cũng tăng. Các vấn đề trên thường do phụ nữ càng lớn tuổi, buồng trứng càng bị lão hóa.

Để khắc phục các vấn đề trên có thể có các biện pháp sau:

- Phụ nữ sau khi lặp gia đình nên có con trước 35 tuổi, tốt nhất trước 30 tuổi, đừng để quá lớn tuổi mới tính đến việc có con.

- Phụ nữ lớn tuổi (xấp xỉ 35 tuổi), khi chậm có con, nên đi điều trị sớm. Nếu đã biết được nguyên nhân, nên chọn những phương pháp có thể đạt tỉ lệ thành công cao trong thời gian ngắn để tranh thủ quỹ thời gian.

- Xin trứng của người trẻ tuổi và làm thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng chồng. Người vợ vẫn có thể mang thai và sinh đẻ bình thường, chi phí điều trị thấp hơn, tỉ lệ thành công cao hơn và tỉ lệ trẻ sinh ra bất thường cũng giảm.

Benh.vn (Theo BV Tu Du)