Điều trị vô sinh chưa rõ nguyên nhân bằng kỹ thuật IUI và tỉ lệ thành công

Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) là một thủ thuật đã được sử dụng từ lâu trong điều trị vô sinh. Với những cải tiến liên tục trong thời gian gần đây, thủ thuật này ngày càng an toàn và được áp dụng rộng rãi.

Vô sinh chưa rõ nguyên nhân và phương pháp IUI

Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) là một thủ thuật đã được sử dụng từ lâu trong điều trị vô sinh. Với những cải tiến liên tục trong thời gian gần đây, thủ thuật này ngày càng an toàn và được áp dụng rộng rãi ở nhiều trung tâm điều trị vô sinh trong cả nước.

Phương pháp IUI có thể dùng với điều kiện sau:

Đề điều trị bằng kỹ thuật IUI, bệnh nhân phải có buồng trứng còn hoạt động, tối thiểu một ống dẫn trứng còn chức năng và tinh trùng chồng không quá yếu. Thêm vào đó, việc kích thích buồng trứng để tăng số lượng nang noãn phát triển cũng có khả năng giúp tăng tỉ lệ có thai do tăng số nang noãn phát triển, tăng số trứng thụ tinh và tăng khả năng có phôi làm tổ. Trong tất cả các nhóm bệnh nhân khám và điều trị vô sinh, nhóm vô sinh chưa rõ nguyên nhân là nhóm phù hợp nhất với các điều kiện của kỹ thuật IUI

Kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung (ảnh minh họa)

Tỉ lệ thành công

Tổng cộng có 432 bệnh nhân vô sinh chưa rõ nguyên nhân, được thực hiện 511 chu kỳ điều trị trong 2 năm 2000 và 2001 được tổng kết. Tuổi trung bình của vợ là 29,36 và của chồng là 32,70. Thời gian vô sinh trung bình khoảng 3,54 năm.

Kết quả cho thấy bệnh nhân vô sinh chưa rõ nguyên nhân đáp ứng tốt với kỹ thuật điều trị bơm tinh trùng vào buồng tử cung. So với chỉ 2,2% có thai tự nhiên và khoảng 30 - 40% có thai sau thụ tinh trong ống nghiệm thì tỉ lệ 31,3% có thai sau IUI thực sự nói lên vai trò của kỹ thuật trong nhóm nguyên nhân này.

Đây là tỉ lệ thành công khá cao so với các nghiên cứu khác với tỷ lệ từ 8,3% đến 26% khi kích thích buồng trứng bằng clomiphene citrate và từ 9% đến 33% khi dùng gonadotropin. Cũng cần lưu ý là nghiên cứu này không khảo sát sâu về nhóm nguyên nhân do cổ tử cung. Tỷ lệ nguyên nhân này, nếu có, chiếm khoảng 5% trong toàn bộ nguyên nhân gây vô sinh được ghi nhận trong y văn.

Kỹ thuật IUI

Trong nghiên cứu này, 42 trường hợp nội mạc dưới 7 mm đều nằm trong nhóm có dùng clomiphene citrate (dùng đơn thuần hoặc dùng kèm với gonadotropin). Clomiphere Citrate đã được báo cáo có tác dụng kháng estrogen trên nội mạc tử cung, do vậy cần lưu ý tác dụng này của thuốc trong quá trình điều trị cho từng bệnh nhân riêng biệt.

Loại vô sinh cũng như thời gian vô sinh liên quan đến tỷ lệ có thai. Vô sinh càng lâu càng khó có thai và vô sinh thứ phát khó có thai hơn vô sinh nguyên phát, dù đều không tìm ra nguyên nhân trên những khảo sát ban đầu.

Tuy không tương quan rõ rệt nhưng khả năng thành công dường như càng giảm khi điều trị nhiều chu kỳ. Một mặt, tuổi bệnh nhân ngày càng tăng, dự trữ buồng trứng càng giảm; mặt khác cơ chế chọn lọc khiến những bệnh nhân này có tỉ lệ thành công giảm hơn những bệnh nhân khác. Do vậy, mặc dù nhóm bệnh nhân vô sinh chưa rõ nguyên nhân là nhóm đáp ứng tốt với kỹ thuật IUI, cần lưu ý trong điều trị để sớm chuyển sang biện pháp khác hữu hiệu hơn khi khả năng điều trị của IUI đã giảm nhiều (sau 4-6 chu kỳ IUI).

Kết luận

Vô sinh chưa rõ nguyên nhân là nhóm nguyên nhân đáp ứng tốt với kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung. Bệnh nhân vô sinh nguyên phát với thời gian vô sinh ngắn có tỷ lệ thành công cao so với các bệnh nhân khác. Đáp ứng kém của nội mạc tử cung tương ứng với giảm khả năng có thai, tình trạng này có thể có liên quan đến dùng Clomiphere Citrate. Với bệnh nhân đã thất bại trong những chu kỳ trước, cần lưu ý để chuyển sang chế độ điều trị khác phù hợp hơn.

Benh.vn  

adv-content