Bác sĩ hé lộ những tai biến có thể xảy ra trong quá trình chạy thận nhân tạo

Theo các chuyên gia quá trình chạy thận vẫn tồn tại những tai biến nhất định. Việc 18 người bị sốc phản vệ, 6 tử vong, 2 người nguy kịch, 10 người vẫn đang tiếp tục phải chạy thận là tai biến nghiêm trọng của y khoa.

Theo các chuyên gia quá trình chạy thận vẫn tồn tại những tai biến nhất định. Việc 18 người bị sốc phản vệ, 6 tử vong, 2 người nguy kịch, 10 người vẫn đang tiếp tục phải chạy thận là tai biến nghiêm trọng của y khoa.

Hạn chế uống nước trước khi chạy thận

Theo TS.BS Trương Hồng Sơn, Viện trưởng Viện Y học ứng dụng Việt Nam, tai biến thường gặp nhất bệnh nhân chạy thận dễ gặp phải đó là tụt huyết áp (20-30%), chuột rút (5-20%), buồn nôn và nôn (5-15%), nhức đầu (5%), đau ngực (2-5%), ngứa (5%) và sốt ớn lạnh (<1%).

Trong số đó, tụt huyết áp là một tai biến thường gặp khi chạy thận. Đặc biệt là khi bệnh nhân bị bệnh tiểu đường. Tụt huyết áp có thể đi kèm với khó thở, đau bụng, co rút cơ, buồn nôn, nôn mửa. Bệnh nhân chạy thận đôi khi sẽ nói cảm giác bị chuột rút. Nguyên nhân gây ra chuột rút cho bệnh nhân chạy thận hiện nay chưa rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, có thể giảm tình trạng chuột rút bằng cách điều chỉnh lượng nước và điện giải của cơ thể giữa các lần chạy thận sẽ giúp dự phòng được tình trạng chuột rút trong quá trình chạy thận.

“Những biến chứng nghiêm trọng như rối loạn nhịp tim, chèn ép tim, xuất huyết nội sọ, co giật, tán huyết và thuyên tắc khí, phản ứng dị ứng, hội chứng mất cân bằng… thường ít gặp”, TS.BS Trương Hồng Sơn nói.

Chạy thận có thể xảy ra tai biến từ nhẹ tới nặng thậm chí là tử vong.

Để quá trình chạy thận có kết quả tốt, TS.BS Trương Hồng Sơn khuyến cáo, bệnh nhân cần vào chạy thận đúng ngày và đúng giờ, đúng chỉ định của bác sĩ. Sau khi chạy thận xong, cần ở lại bệnh viện đủ lâu để được theo dõi toàn diện.

Chế độ ăn trước chạy thận cần lưu ý tránh ăn những loại đồ ăn/đồ uống khiến cơ thể tích nước. Hạn chế ăn các loại đồ ăn, đồ uống có chứa nhiều kali, phosphor, muối (ví dụ như nước ép rau củ hoặc đồ uống thể thao).

“Không nên uống quá nhiều nước vì có thể gây tích nước cơ thể gây ra hiện tượng: tăng cân, phù, thay đổi huyết áp, tạo gánh nặng cho tim, khó thở. Khi tính toán lượng nước tiêu thụ trong ngày, cũng cần tính cả lượng nước trong các loại thực phẩm nhiều nước như súp, kem, dưa hấu, nho, táo, cam, cà chua… Hạn chế tiêu thụ muối (dưới 5g muối/ngày), vì muối sẽ khiến cơ thể khát nước và khiến bệnh nhân uống nhiều nước hơn. Cần bổ sung đủ protein và năng lượng để duy trì sức khỏe”, TS.BS Trương Hồng Sơn cho biết.

Sốc phản vệ với người suy thận nguy hiểm như thế nào?

TS.BS Trương Hồng Sơn chia sẻ, sốc phản vệ có thể xảy ra khi chạy thận được gọi là phản ứng màng lọc. Đây là một nhóm lớn các biến cố bao gồm cả các phản ứng phản vệ lẫn các phản ứng không rõ ràng, có nguyên nhân chưa rõ. Có hai loại phản vệ (loại A) và loại không đặc hiệu (loại B).

Triệu chứng của phản ứng loại A là các phản ứng phản vệ. Bệnh nhân sẽ khó thở, nóng tại vùng tiếp cận mạch máu hoặc khắp cơ thể. Nếu diễn biến xấu, bệnh nhân có thể ngừng tim và tử vong. Những trường hợp nhẹ có thể ngứa ngáy, mề đay, ho, chảy nước mũi, nước mắt, đau quặn bụng. Các triệu chứng này thường xuất hiện trong vòng vài phút sau khi chạy thận hoặc lâu hơn sau 30 phút chạy thận. Nguyên nhân của phản ứng loại A có thể do dị ứng với ethylene oxide (dùng để tiệt trùng màng lọc khi chạy thận); dịch lọc nhiễm bẩn; sử dụng lại màng lọc; việc sử dụng heparin (heparin được sử dụng trong quá trình chạy thận để ngăn ngừa tình trạng đông máu); tăng eosinophile máu.  Khi xảy ra những hiện tượng trên cần ngừng ngay chạy thận.

Các triệu chứng chính của phản ứng loại B, bệnh nhân có thể gặp là đau ngực, thường xuất hiện sau 20-40 phút chạy thận. Phản ứng B ít nguy hiểm hơn loại A rất nhiều. Bệnh nhân gặp phải phản ứng này vẫn tiếp tục được chạy thận và cho thở oxy.

Trả lời câu hỏi sốc phản vệ trên nền bệnh lý suy thận nguy hiểm như thế nào?, TS.BS Trương Hồng Sơn cho biết: “Sốc phản vệ nói chung đều nguy hiểm bởi khi đã xảy ra sốc phản vệ, diễn tiến sẽ rất nhanh trong vòng 1–2 phút và chuyển sang trạng thái nguy kịch, lúc này rất khó để đảo ngược tình huống, có thể gây tử vong. Do vậy, khi phản ứng phản vệ xảy ra, cần được xử trí ngay, ví dụ như ngừng chạy thận (nếu phản ứng loại A) và xử trí theo phác đồ xử trí sốc phản vệ”.

Benh.vn (Theo Ngọc Minh/Nguồn Emdep)

Các bài viết khác