A

Aclasta

Dung dịch tiêm truyền 5 mg/100 ml: hộp 1 chai 100 ml

Thành phần

Cho 100 ml Zoledronic acid           5 mg

Dược lực

Loãng xương

Việc điều trị bằng Aclasta làm giảm nhanh tốc độ luân chuyển xương từ các mức tăng cao sau mãn kinh, với điểm thấp nhất chỉ thị sự tiêu xương quan sát được sau 7 ngày, và chỉ thị sự tạo xương quan sát được sau 12 tuần. Sau đó các chất chỉ thị về xương ổn định trong mức như trước khi mãn kinh. Không có sự giảm liên tục chất chỉ thị sự luân chuyển xương khi tiêm liều lặp lại hàng năm.

Trong các nghiên cứu dài ngày trên động vật, acid zoledronic ức chế sự tiêu xương mà không tác dụng ngược lên sự tạo xương, sự khoáng hóa hoặc các tính chất cơ học của xương. Các dữ liệu về đo hình thái mô khi thử nghiệm dài ngày trên chuột cống và khỉ cho thấy đáp ứng điển hình của xương với thuốc chống tiêu xương qua sự giảm hoạt tính của hủy cốt bào phụ thuộc liều dùng và tần suất hoạt hóa các vị trí tu sửa mới bộ xương ở cả xương bó và xương Havers. Đã quan sát thấy có sự tiếp tục tu sửa bộ xương ở các mẫu xương của tất cả động vật được điều trị với liều acid zoledronic với liều dùng trong lâm sàng. Chưa thấy bằng chứng về giảm khoáng hóa xương, sai lạc về tích lũy dạng xương và chưa thấy dạng xương kết dính ở các động vật dùng thuốc.

Dược lý lâm sàng

Những đối tượng đặc biệt

Độ thanh thải qua thận của acid zoledronic có tương quan với độ thanh thải creatinine, độ thanh thải qua thận tương ứng với 75 ± 33% độ thanh thải creatinine, cho thấy mức thanh thải trung bình là 84 ± 29 mL/phút

Hiệu quả lâm sàng trong điều trị loãng xương sau mãn kinh

Hiệu quả và độ an toàn của Aclasta đã được chứng minh trong nghiên cứu ở nhiều quốc gia, ngẫu nhiên, mù đôi có kiểm chứng với giả dược ở 7736 phụ nữ 65-89 tuổi có chỉ số mật độ khoáng của xương (BMD-T) của cổ xương đùi ≤ -1,5 và có ít nhất hai lần gãy đốt sống nhẹ hoặc một lần gãy đốt sống trung bình; hoặc chỉ số BMD-T của cổ xương đùi ≤ -2,5 có hoặc không có dấu hiệu về gãy đốt sống hiện có. Aclasta được dùng 1 lần mỗi năm trong 3 năm liên tiếp dưới dạng 1 liều đơn 5 mg trong 100 mL dung dịch được truyền ít nhất trong 15 phút đối với tổng liều gồm 3 liều. Tác dụng trên gãy đốt sống

Aclasta làm giảm đáng kể nguy cơ gãy mới hoặc gãy nặng hơn một hoặc nhiều đốt sống ở thời điểm 1 năm (58%), 2 năm (68%) và 3 năm (67%) (tất cả p < 0,0001). Aclasta làm giảm đáng kể nguy cơ của ít nhất một gãy mới đốt sống trung bình hoặc nặng vào thời điểm 1 năm (60%), 2 năm (71%) và 3 năm (70%) (tất cả p < 0,0001).

Sự giảm gãy đốt sống sau 3 năm hằng định và cao hơn đáng kể so với giả dược bất kể tuổi, vùng địa lý, dân tộc, chỉ số khối cơ thể cơ bản, số trường hợp gãy đốt sống ở mức cơ bản, chỉ số mật độ khoáng của xương (BMD-T) của cổ xương đùi hoặc sử dụng bisphosphonate trước đó. Đặc biệt đối với những bệnh nhân từ 75 tuổi trở lên, bệnh nhân dùng Aclasta giảm 61% nguy cơ gãy đốt sống so với bệnh nhân dùng giả dược (p < 0,0001).

Tác dụng trên gãy xương hông

Aclasta đã chứng tỏ làm giảm 40% nguy cơ gãy xương hông sau 3 năm. Tỷ lệ biến cố gãy xương hông là 1,45% ở bệnh nhân được điều trị bằng Aclasta so với 2,50% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược.

Tỷ lệ giảm gãy xương hông sau 3 năm cao hơn so với giả dược bất kể tuổi, vùng địa lý, dân tộc, chỉ số khối cơ thể cơ bản, số trường hợp gãy đốt xương sống ở mức cơ bản, hoặc chỉ số BMD-T của cổ xương đùi.

Tác dụng trên tất cả gãy xương lâm sàng

Aclasta đã chứng tỏ trội hơn giả dược trong việc làm giảm tỷ lệ tất cả gãy xương lâm sàng, gãy đốt sống lâm sàng và gãy xương lâm sàng không phải đốt sống. Tất cả gãy xương lâm sàng đã được xác minh dựa vào chứng cớ về X-quang và/hoặc lâm sàng.

Aclasta làm tăng đáng kể mật độ chất khoáng của xương ở xương sống thắt lưng, xương hông và đầu xa xương quay so với điều trị bằng giả dược ở tất cả thời điểm nghiên cứu (6 tháng, 12 tháng, 24 tháng và 36 tháng). Điều trị bằng Aclasta dẫn đến tăng 6,9% mật độ chất khoáng của xương ở xương sống thắt lưng, 6% ở toàn bộ xương hông, 5% ở cổ xương đùi và 3,2% ở đầu xa xương quay sau 3 năm so với điều trị bằng giả dược.

Tác dụng trên chiều cao

Trong một nghiên cứu 3 năm về loãng xương, chiều cao được đo hàng năm sử dụng thước đo chiều cao. Nhóm dùng Aclasta cho thấy ít giảm chiều cao hơn so với nhóm dùng giả dược (4,2 mm ở nhóm dùng Aclasta so với 6,7 mm ở nhóm dùng giả dược, p < 0,0001).

Số ngày mất chức năng

Aclasta làm giảm đáng kể số ngày bị hạn chế hoạt động và số ngày bất động tại giường do gãy xương so với giả dược (tất cả p < 0,01).

Hiệu quả lâm sàng trong việc phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông

Tác dụng trên tất cả gãy xương lâm sàng

Trong thử nghiệm HORIZON-RFT, việc điều trị bằng Aclasta làm giảm đáng kể tỷ lệ của bất kỳ gãy xương lâm sàng nào là 35%. Khi dùng Aclasta cũng còn giảm 46% nguy cơ gãy đốt sống lâm sàng, giảm 27% nguy cơ gãy xương không phải đốt sống. Đã quan sát thấy giảm 30% nguy cơ bị gãy xương hông sau đó đối với nhóm dùng Aclasta, không có ý nghĩa thống kê.

Điều trị loãng xương ở nam giới

Tính an toàn và hiệu quả của Aclasta ở nam giới bị loãng xương hoặc bị loãng xương thứ phát do suy giảm chức năng tuyến sinh dục. Hiệu quả đã được chứng minh khi Aclasta không cho thấy có sự thấp hơn alendronate về sự thay đổi tỷ lệ phần trăm mật độ khoáng của xương sống thắt lưng trong 24 tháng so với khi bắt đầu nghiên cứu.

Điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid

Tính an toàn và hiệu quả của Aclasta trong điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid. Hiệu quả đã được chứng minh khi risedronate cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ phần trăm thay đổi mật độ khoáng của xương sống thắt lưng trong 12 tháng so với khi bắt đầu nghiên cứu lần lượt ở nhóm điều trị và phòng ngừa bệnh.

Bệnh Paget xương

Bệnh Paget xương là một bệnh về xương mạn tính, cục bộ được đặc trưng bởi sự tăng mạnh và phục hồi bộ xương một cách rối loạn. Sự tiêu xương do hủy cốt bào quá mức kèm theo sự tạo xương mới bất thường do hủy cốt bào, dẫn đến thay thế cấu trúc xương bình thường bằng một cấu trúc xương mất trật tự, phì đại và yếu. Biểu hiện lâm sàng của bệnh Paget ở mức từ không có triệu chứng đến tình trạng bệnh trầm trọng do đau xương, biến dạng xương, gãy xương bệnh lý và các biến chứng thần kinh cùng các biến chứng khác. Phosphatase kiềm trong huyết thanh là chỉ số sinh hóa về hoạt tính của bệnh thường được sử dụng nhất đem lại sự đánh giá khách quan về độ nặng của bệnh và đáp ứng đối với điều trị.

Trong hai thử nghiệm lâm sàng 6 tháng so sánh ngẫu nhiên, được kiểm chứng tốt trên những bệnh nhân bị bệnh Paget, Aclasta đã chứng tỏ đáp ứng trội hơn và nhanh hơn so với risedronate. Ngoài ra, các chất chỉ điểm sinh hóa về sự tạo xương và sự tiêu xương đã chứng tỏ có sự bình thường hóa sự luân chuyển xương ở nhiều bệnh nhân được điều trị bằng Aclasta so với bệnh nhân được điều trị bằng risedronate (xem phần Dược lực).

Hiệu quả lâm sàng đối với điều trị bệnh Paget xương

Aclasta đã được nghiên cứu ở các bệnh nhân nam và nữ trên 30 tuổi bị bệnh Paget xương nguyên phát ở mức từ nhẹ đến trung bình (nồng độ phosphatase kiềm trong huyết thanh trung bình gấp 2,6-3 lần giới hạn trên của mức tham khảo bình thường đặc hiệu theo tuổi vào thời điểm bắt đầu nghiên cứu), được xác định bằng biểu hiện về chụp X-quang.

Hiệu quả của 1 lần truyền 5 mg acid zoledronic so với liều risedronate 30 mg/ngày trong 2 tháng đã được chứng minh trong 2 thử nghiệm so sánh trong 6 tháng. Đáp ứng điều trị được định nghĩa là sự bình thường hóa phosphatase kiềm trong huyết thanh (SAP), hoặc là giảm ít nhất 75% so với mức cơ bản về sự tăng quá mức tổng phosphatase kiềm trong huyết thanh vào cuối 6 tháng. Sự tăng quá mức phosphatase kiềm trong huyết thanh được định nghĩa là sự khác biệt giữa nồng độ đo được với điểm giữa của mức bình thường.

Những bệnh nhân được xếp loại là người có đáp ứng vào cuối của nghiên cứu then chốt trong 6 tháng thì đủ tiêu chuẩn để đưa vào thời kỳ theo dõi kéo dài.

Những nghiên cứu về độ an toàn với xương

Sự đáp ứng với liều dùng và thời gian tác dụng khi tiêm tĩnh mạch 1 liều đơn acid zoledronic (0,8-500 microgam/kg) đã được nghiên cứu trên chuột cống trưởng thành đã cắt bỏ buồng trứng trong 8 tháng sau khi dùng liều trên, tương ứng với khoảng 8 chu kỳ tu sửa trong 2,7 năm ở người. Một liều đơn acid zoledronic đã bảo vệ chống lại sự mất xương do cắt buồng trứng; cả mức độ và thời gian tác dụng đều phụ thuộc liều dùng. Hai liều cao nhất là 100 microgam/kg và 500 microgam/kg đã làm tăng đáng kể mật độ xương, thể tích xương bó, số lượng xương bó và mật độ liên kết đến các mức cao hơn so với các mức ở nhóm chứng dùng giả dược. Những liều thấp hơn đã tạo ra tác dụng yếu hơn và ít kéo dài hơn. Thử nghiệm cơ học khi kết thúc cuộc nghiên cứu với liều cao hơn đã cho thấy sự tăng phụ thuộc liều về độ bền của xương đến các trị số cao hơn so với các trị số ở nhóm chứng dùng giả dược. Phân tích đo mô hình thái và đo nồng độ osteocalcin trong huyết tương đã xác định là sự tạo xương đã xuất hiện sau khi tiêm thuốc 32 tuần ngay cả khi dùng liều cao nhất 500 microgam/kg. Liều này ở chuột cống gấp khoảng 3,4 lần so với liều 5 mg dùng cho một bệnh nhân nặng 50 kg. Các kết quả tương tự cho thấy có sự cải thiện phụ thuộc liều về khối lượng xương và độ bền của xương khi tiêm dưới da acid zoledronic hàng tuần cho chuột cống đã cắt bỏ buồng trứng (0,3-7,5 microgam/kg trong 52 tuần) và khỉ đã cắt bỏ buồng trứng (0,5-12,5 microgam/kg trong 69 tuần). Nói chung, các kết quả này cung cấp chứng cứ tiền lâm sàng về hiệu quả và độ an toàn của xương khi dùng acid zoledronic với các liều thích hợp trên lâm sàng.

Cơ chế tác dụng

Acid zoledronic thuộc nhóm các bisphosphonate chứa nitơ và tác động chủ yếu trên xương. Nó là chất ức chế sự tiêu xương qua trung gian của hủy cốt bào.

Tác dụng có chọn lọc của bisphosphonate trên xương dựa vào ái lực cao của nhóm thuốc này đối với chất khoáng của xương. Acid zoledronic dùng đường tĩnh mạch được phân bố nhanh vào xương và cũng như các bisphosphonate khác, khu trú trước hết vào các vị trí có sự luân chuyển xương cao. Đích phân tử chính của acid zoledronic trong hủy cốt bào là enzyme farmesyl pyrophosphat synthetase, nhưng không loại trừ các cơ chế khác. Thời gian tác động tương đối dài của acid zoledronic có thể quy cho là do ái lực cao của chất này đối với vị trí hoạt động của farnesyl pyrophosphat (FPP) synthase và ái lực gắn kết mạnh của nó với chất khoáng của xương.

Dược động học

Sau khi khởi đầu truyền acid zoledronic, nồng độ của hoạt chất này trong huyết tương tăng nhanh, đạt nồng độ đỉnh khi kết thúc thời gian truyền, tiếp theo là giảm nhanh xuống < 10% nồng độ đỉnh sau 4 giờ và < 1% nồng độ đỉnh sau 24 giờ, sau đó là thời kỳ kéo dài với các nồng độ rất thấp không quá 0,1% nồng độ đỉnh.

Khi truyền tĩnh mạch, acid zoledronic được đào thải theo quá trình 3 pha: biến mất khỏi tuần hoàn toàn thân nhờ quá trình 2 pha nhanh, với thời gian bán thải t1/2 alpha là 0,24 giờ và t1/2 beta là 1,87 giờ, tiếp theo là pha đào thải kéo dài với thời gian bán thải cuối t1/2 gamma là 146 giờ. Không có sự tích lũy hoạt chất này trong huyết tương sau khi tiêm nhiều liều mỗi 28 ngày. Các pha đầu tiên (alpha và beta, với các trị số t1/2 ở trên) có thể biểu thị sự thu nhận nhanh vào xương và bài tiết qua thận.

Acid zoledronic không được chuyển hóa trong cơ thể và đào thải dưới dạng không đổi qua thận.

Chưa có nghiên cứu được tiến hành về tương thuốc đặc hiệu với acid zoledronic. Vì acid zoledronic không được chuyển hóa ở người và chất này được biết là có ít hoặc không có khả năng là chất ức chế các enzyme P450 tác dụng trực tiếp và/hoặc phụ thuộc vào sự chuyển hóa không thuận nghịch, không chắc là acid zoledronic làm giảm độ thanh thải chuyển hóa của các chất được chuyển hóa qua hệ enzyme cytochrom P450. Acid zoledronic không gắn kết mạnh với protein huyết tương (gắn khoảng 43-55%) và sự gắn kết này không phụ thuộc vào nồng độ. Vì vậy, không chắc có tương tác do chiếm chỗ các thuốc gắn mạnh với protein huyết tương.

Khả năng gây đột biến và gây ung thư

Acid zoledronic không gây đột biến trong các thử nghiệm gây đột biến và các thử nghiệm gây ung thư không cho thấy chứng cứ về khả năng gây ung thư.

Chỉ định

– Điều trị loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh để làm giảm tỷ lệ gãy xương hông, gãy xương đốt sống và gãy xương không phải đốt sống và để làm tăng mật độ chất khoáng của xương.

– Phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông ở nam giới và phụ nữ.

– Điều trị loãng xương ở nam giới

– Điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid

– Điều trị bệnh Paget xương.

Chống chỉ định

– Hạ calci máu (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

– Phụ nữ có thai và cho con bú (xem phần Lúc có thai và lúc nuôi con bú).

– Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ thành phần nào của tá dược hoặc với mọi bisphosphonate.

Liều lượng và cách dùng

Chung

Tỷ lệ các triệu chứng sau khi điều trị Aclasta xảy ra trong vòng 3 ngày đầu có thể giảm đi khi sử dụng paracetamol hoặc ibuprofen sớm sau khi dùng Aclasta.

Bệnh nhân phải được bù nước thích hợp trước khi dùng Aclasta. Điều này đặc biệt quan trọng ở người cao tuổi và đối với những bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

Điều trị loãng xương sau mãn kinh

Để điều trị loãng xương sau mãn kinh, liều khuyến cáo là truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong 1 năm.

Bổ sung đầy đủ calci và vitamin D là điều quan trọng đối với phụ nữ bị loãng xương nếu sự thu nhận qua chế độ ăn không đầy đủ (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

Phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông

Để phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông do chấn thương nhẹ, liều khuyến cáo là truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong 1 năm.

Đối với những bệnh nhân mới bị gãy xương hông do chấn thương nhẹ, khuyến cáo dùng liều tấn công 50.000 đến 125.000 IU vitamin D đường uống hoặc tiêm bắp trước khi truyền dung dịch Aclasta lần đàu tiên.

Khuyến cáo bổ sung calci và vitamin D cho bệnh nhân được điều trị để phòng ngừa gãy xương lâm sàng sau gãy xương hông do chấn thương nhẹ (xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).

Điều trị loãng xương ở nam giới

Để điều trị loãng xương ở nam giới, liều khuyến cáo truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong năm.

Bổ sung đầy đủ calci và vitamin D là điều quan trọng đối với nam giới bị loãng xương nếu sự thu nhận qua chế độ ăn không đầy đủ (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

Điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid

Để điều trị và phòng ngừa loãng xương do glucocorticoid, liều khuyến cáo truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta 1 lần trong năm.

Bổ sung đầy đủ calci và vitamin D là điều quan trọng đối với những bệnh nhân bị loãng xương nếu sự thu nhận qua chế độ ăn không đầy đủ.

Điều trị bệnh Paget xương

Để điều trị bệnh Paget, Aclasta chỉ nên được kê đơn bởi các bác sĩ có kinh nghiệm trong việc điều trị bệnh Paget xương. Liều khuyến cáo là truyền tĩnh mạch một liều đơn 5 mg Aclasta.

Điều trị lại bệnh Paget: Chưa có dữ liệu đặc hiệu về việc điều trị lại. Sau khi điều trị bệnh Paget bằng 1 liều đơn Aclasta, đã quan sát thấy giai đoạn thuyên giảm kéo dài ở những bệnh nhân đáp ứng (xem phần Các đặc tính dược lực học). Tuy nhiên, có thể xem xét điều trị lại bằng Aclasta ở bệnh nhân bị tái phát, dựa trên sự tăng phosphatase kiềm trong huyết thanh, ở bệnh nhân không đạt được sự bình thường hóa phosphatase kiềm trong huyết thanh, hoặc ở bệnh nhân có các triệu chứng như đã được ghi nhận trong thực tiễn y khoa 12 tháng sau khi dùng liều khởi đầu.

Ở bệnh nhân bị bệnh Paget, khuyến cáo bổ sung vitamin D đầy đủ khi dùng Aclasta. Ngoài ra, đặc biệt khuyến cáo bệnh nhân bị bệnh Paget phải bảo đảm bổ sung đầy đủ lượng calci tương ứng với ít nhất 500 mg calci nguyên tố, 2 lần/ngày ít nhất trong 10 ngày sau khi dùng Aclasta (xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).

Các nhóm bệnh nhân đặc biệt

Bệnh nhân suy thận

Không khuyến cáo dùng Aclasta cho bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinine < 35 mL/phút do chưa có đủ các dữ liệu về độ an toàn trên lâm sàng ở những bệnh nhân này (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinine ≥ 35 mL/phút.

Bệnh nhân suy gan

Sản phẩm cùng công dụng

Sản phẩm khác