fbpx

Z

thuốc zestril 5mg

Zestril 5mg

Thuốc Zestril đươc chỉ định trong điều trị tăng huyết áp vô căn và tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận. Nó có thể đươc dùng một mình hoăc phối hợp với các loại thuốc điều trị tăng huyết áp khác

Zestril đươc chỉ định trong điều trị tăng huyết áp vô căn và tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận. Nó có thể đươc dùng một mình hoăc phối hợp với các loại thuốc điều trị tăng huyết áp khác.

Dạng bào chế

Viên nén 5 mg: Hộp 2 vỉ x 14 viên

Viên nén 10 mg: Hộp 2 vỉ x 14 viên

Viên nén 20 mg: Hộp 2 vỉ x 14 viên

Zestril thuộc danh mục thuốc kê đơn

Nhà sản xuất: AstraZeneca Singapore Pte., Ltd

Dược lực học

Lisinopril ức chế ACE angiotensin (ACE), là enzym nội sinh có vai trò chuyển angiotensin I thành angiotensin II. Angiotensin I tăng trong một số bệnh như suy tim và bệnh thận, do đáp ứng với tăng renin. Angiotensin II kích thích tăng trưởng cơ tim, gây phì đại cơ tim và gây co mạch, tăng huyết áp. Thuốc ức chế ACE làm giảm nồng độ angiotensin II và aldosteron. Do đó làm giảm ứ natri và nước, giãn mạch ngoại vi, giảm sức cản ngoại vi.

Trong cao huyết áp

Thuốc ức chế ACE thường làm giảm huyết áp trừ khi tăng huyết áp do cường aldosteron tiên phát.

Trong suy tim

Các thuốc ức chế ACE làm giảm hậu gánh và giảm căng thành mạch ở thì tâm thu. Làm làm tăng cung lượng và chỉ số tim, tăng sức co bóp của tim và tăng thể tích tâm thu. Làm giảm tiền gánh và giảm căng thành mạch tâm trương. Cải thiện được huyết động tốt hơn. Do đó tăng khả năng gắng sức và ức chế hệ thần kinh giao cảm mạnh hơn. Lưu lượng máu ở não và mạch vành vẫn duy trì tốt ngay cả khi huyết áp bị hạ.

Trong nhồi máu cơ tim

Các thuốc ức chế ACE là thuốc chuẩn trong điều trị người bệnh nhồi máu cơ tim, được dùng trong vòng 24 giờ sau khi bắt đầu cơn nhồi máu. Ngoài ra, thuốc cũng có tác dụng dự phòng nhồi máu cơ tim.

Trong bệnh thận do đái đường

Lisinopril và các ức chế ACE đã chứng tỏ làm chậm suy thận trong bệnh thận do đái tháo đường. Thuốc ức chế ACE có thể làm chậm bệnh thận mạn tiến triển, như trong đái tháo đường. Do đó, trừ khi có chống chỉ định, người bị bệnh thận do đái tháo đường (dù huyết áp bình thường hay tăng) nên được điều trị bằng thuốc ức chế ACE.

Dược động học

Hấp thu

Lisinopril được hấp thu chậm và không hoàn toàn qua đường tiêu hóa. Sự hấp thu của lisinopril rất khác nhau giữa các cá thể, có thể từ 6 – 60% liều dùng được hấp thu, nhưng trung bình khoảng 25%. Thức ăn không ảnh hưởng tới sự hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa. Bản thân lisinopril có sẵn hoạt tính khi vào trong cơ thể không cần phải qua quá trình chuyển hóa mới có hoạt tính như một số thuốc ức chế ACE khác. Ðạt nồng độ tối đa trong huyết tương sau khoảng 7 giờ và duy trì tác dụng khoảng 24 giờ.

Phân bố

Lisinopril không liên kết với protein huyết tương.

Thải trừ

Thuốc thải trừ qua nước tiểu ở dạng không biến đổi. Nửa đời thải trừ sau khi uống nhiều liều ở người bệnh có chức năng thận bình thường là 12 giờ. Có thể loại bỏ lisinopril bằng thẩm tách máu.

Chỉ định

Tăng huyết áp: Zestril đươc chỉ định trong điều trị tăng huyết áp vô căn và tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận. Nó có thể đươc dùng một mình hoăc phối hợp với các loại thuốc điều trị tăng huyết áp khác.

Suy tim sung huyết: dùng trong kiểm soát suy tim sung huyết, hỗ trợ cho điều trị bằng thuốc lợi tiểu và digitalis khi thích hợp.

Nhồi máu cơ tim cấp: Zestril được chỉ định điều trị ở bệnh nhân có huyết động học ổn định trong vòng 24 giờ trong bệnh nhồi máu cơ tim cấp, ngăn ngừa hậu quả của tình trạng rối loạn chức năng thất trái hay suy tim và cải thiện sự sống sốt. Bệnh nhân nên được dùng phối hợp với thuốc ly giải huyết khối aspirin và/hoặc thuốc chẹn thụ thể beta.

Biến chứng trên thận của bệnh tiểu đường: Ở bệnh nhân tiểu đường phụ thuộc insulin có huyết áp bình thường và bệnh nhân tiểu đường không phụ thuộc insulin có tăng huyết áp vừa mới chớm mắc bệnh lý thận được đặc trưng bởi vi albumin niệu, Zestril làm giảm tốc độ tiết albumin niệu.

Chống chỉ định

Chống chỉ định sử dụng ‘zestril’ ở các bệnh nhân

  • Quá mẫn vớI bất kỳ thành phần nào của thuốc
  • Bệnh nhân có tiền sử phù mạch do điều trị trước đó với một thuốc ức chế ACE
  • Bệnh nhân phù mạch di truyền hoặc vô căn.

Không dùng cho người bệnh bị hẹp lỗ van động mạch chủ, hoặc bệnh cơ tim tắc nghẽn, hẹp động mạch thận hai bên hoặc ở một thận đơn độc, các bệnh nhân có tiền sử phù mạch do điều trị trước đó với một thuốc ức chế ACE và ở bệnh nhân phù mạch di truyền hoặc vô căn và người bệnh quá mẫn với thuốc.

Liều dùng & cách dùng

Lisinopril là thuốc ức chế ACE có tác dụng kéo dài, vì vậy thuốc được dùng đường uống và ngày dùng 1 lần.

Điều trị tăng huyêt áp vô căn:

Liều thông thường: Liều khởi đầu: 10mg/ngày. Liều duy trì: 20mg/ngày. Liều sử dụng nên được điều chỉnh theo đáp ứng của huyết áp. Nếu không đạt được hiệu quả điều trị mong muốn sau 2-4 tuần: có thể tăng liều tối đa 80mg/ngày.

Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu: Nên ngưng thuốc lợi tiểu 2-3 ngày trước khi bắt đầu điều trị bằng Zestril. Ở bệnh nhân tăng huyết áp không thể ngưng thuốc lợi tiểu, nên dùng Zestril với liều khởi đầu 5mg. Liều Zestril tiếp theo nên điều chỉnh tuỳ theo đáp ưng của huyết áp. Nếu cần thiết, có thể tiếp tục dùng thuốc lợi tiểu.

Điều chỉnh liều luợng ở bệnh nhân tổn thương thận: liều khởi đầu ở bệnh nhân suy thận phải dược dựa trên độ thanh thải creatinine (ml/phút):

  • Độ thanh thải creatinine <10ml/phút: 2.5 mg
  • Độ thanh thải creatinine 10-30ml/phút: 2.5 – 5 mg
  • Độ thanh thải creatinine 31-70 ml/phút: 5 – 10 mg

Liều sử dụng và/hoặc số lần dùng thuốc cần được điều chỉnh theo đáp ứng về huyết áp và có thể được tăng dần cho đến khi kiểm soát được huyết áp hoặc tới liều tối đa 40mg/ngày.

Tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận:

Có thể có đáp ứng quá mức với liều khởi đầu thấp hơn 2,5 –5mg. Sau đó liều lượng sẽ đươc điều chỉnh theo đáp ứng của huyết áp.

Điều trị suy tim sung huyết:

Liều khởi đầu 2,5 mg/ngày. Trong các thử nghiệm lâm sàng, liều lượng đã được điều chỉnh mỗi 4 tuần với những bệnh nhân cần có hiệu quả điều trị cao hơn. Việc điều chỉnh liều lượng phải dựa trên đáp ứng lâm sàng đối với từng bệnh nhân. Liều thông thường có hiệu quả từ 5-20 mg mỗi ngày uống một lần.

Ở bệnh nhân có nguy cơ cao tụt huyết áp có triệu chứng, ví dụ bệnh nhân thiếu muối có hay không có giảm natri, bệnh nhân giảm thể tích tuần hoàn hoặc bênh nhân đã được điều trị tích cực bằng thuốc lợi tiểu, cần điều chỉnh các rối loạn này trước khi điều trị với Zestril. Tác dụng của liều khởi đầu Zestril trên huyết áp phải được theo dõi cẩn thận.

Điều trị nhồi máu cơ tim cấp:

Điều trị bằng Zestril có thể khởi đầu trong vòng 24 giờ từ khi khởi phát các triệu chứng.

  • Liều khởi đầu: 5 mg qua đường uống; sau 24h: 5 mg; sau 48h: 10 mg; các ngày sau đó: 10mg/ngày.
  • Bệnh nhân có huyết áp 120mmHg nên dùng liều thấp 2,5 mg đường uống khi khởi đầu điều trị hay trong vòng 3 ngày đầu tiên sau khi nhồi máu. Nếu hạ huyết áp xảy ra (huyết áp tâm thu  100mmHg) liều duy trì hàng ngày nên được giảm tạm thời xuống còn 2,5mg nếu cần thiết. Nếu hạ huyết áp kéo dài xảy ra (huyết áp tâm thu < 90mmHg kéo dài hơn 1h), nên ngừng dùng thuốc.
  • Liều nên được dùng liên tục trong 6 tuần.

Biến chứng trên thận của bệnh nhân tiểu đường:

Ở bệnh nhân tiểu đường phụ thuộc insulin có huyết áp bình thường, liều hàng ngày 10 mg/ngày, có thể tăng lên 20 mg/ngày nếu cần thiết, để đạt được huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi < 75mmHg.

Ở bệnh nhân tiểu đường không phụ thuộc insulin bị tăng huyết áp, dùng phác đồ liều lượng như trên để đạt đến huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi < 90mmHg.

Sử dụng ở trẻ em: Tính an toàn và hiệu quả của viêc sử dụng Zestril ở trẻ em chưa được xác lập

Sử dụng ở người cao tuổi: Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có sự thay đổi nào liên quan đến tuổi tác bệnh nhân về hiệu quả và tính an toàn của thuốc. Tuy nhiên khi tuổi cao làm giảm chức năng thận, nên tuân theo sự điều chỉnh liều cho bệnh nhân tổn thương thận; sau đó liều lượng nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp.

Thận trọng

Tụt huyết áp có triệu chứng

Dễ xảy ra ở bệnh nhân tăng huyết áp dùng Zestril nếu bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn; ví dụ do thuốc lợi tiểu, chế độ ăn hạn chế muối, thẩm phân tiêu chảy hoặc nôn mửa.

Ở bệnh nhân suy tim sung huyết có hay không có suy thận kèm theo, tụt huyết áp có triệu chứng cũng đã được ghi nhận. Điều này có nhiều khả năng xảy ra hơn ở bệnh nhân suy tim nặng, phản ánh qua việc dùng liều cao thuốc lợi tiểu quai, giảm natri máu hoặc tổn thương chức năng thận.

Ở những bệnh nhân có nguy cơ cao bị hạ huyết áp có triệu chứng, việc khởi đầu điều trị và điều chỉnh liều cần được giám sát chặt chẽ. Những biện pháp tương tự cũng được áp dụng ở bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh mạch máu não, mà ở những bệnh nhân này sự tụt huyết áp quá mức có thể dẫn tới nhồi máu cơ tim hoặc tai biên mạch máu não

Nếu tụt huyết áp xảy ra phải để bệnh nhân nằm ngửa. Nếu cần, truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Tụt huyết áp thoáng qua không phải là chống chỉ định đối với những liều tiếp theo. Những liều thuốc này có thể được sử dụng không có trở ngại khi huyết áp đã được nâng lên sau khi bù dịch.

Thận trọng ở những bệnh nhân hẹp động mạch chủ hoặc bệnh tâm lý cơ tim phì đại. Ở một số bệnh nhân suy tim sung huyết có huyết áp bình thường hoặc thấp, huyết áp có thể tụt hơn nữa khi dùng Zestril. Tác dụng này đã được biết trước và thường không phải là lí do để ngừng thuốc. Nếu tụt huyết áp có triệu chứng, có thể cần phải giảm liều hoặc ngưng sử dụng Zestril.

Hạ huyết trong nhồi máu cơ tim

Không được khởi đầu điều trị với Lisinopril cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim có nguy cơ bị rối loạn huyết động học trầm trọng sau khi điều trị với thuốc giãn mạch.

Nên giảm liều nếu huyết áp tâm thu <120 mmHg. Giảm liều duy trì xuống 5 mg hoặc tạm thời xuống 2,5 mg Hg nếu huyết áp tâm thu < 100 mmHg.
Nếu hạ huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu < 90 mmHg kéo dài hơn 1 giờ) phải ngưng dùng Zestril.

Tổn thương chức năng thận

Ở bệnh nhân suy tim sung huyết, hạ huyết áp khi khởi đầu điều trị bằng thuốc ức chế ACE có thể làm tình trạng tổn thương chức năng thận nặng thêm. Suy thận cấp, thường là có thể hồi phục, đã được ghi nhận trong trường hợp này.

Ở một số bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch thận của thận đơn độc được điều trị với thuốc ức chế ACE, người ta đã ghi nhận có sự gia tăng urê huyết và creatinine huyết thanh, thường sẽ hồi phục khi ngưng điều trị.

Đặc biệt dễ xảy ra ở bệnh nhân suy thận. Nếu có thêm tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận thì làm tăng nguy cơ tụt huyết áp nặng và suy thận. Ở những bệnh nhân này, nên bắt đầu điều trị ở liều thấp dưới sự giám sát chặt chẽ và điều chỉnh liều lượng cần thiết. Nên ngưng dùng thuốc lợi tiểu và theo dõi chức năng thận trong những tuần đầu tiên điều trị với Zestril. Một số bệnh nhân tăng huyết áp mà không có bệnh lý mạch máu thận rõ rệt trước đó có hiện tượng tăng urê huyết và creatinine huyết thanh, thường là nhẹ và thoáng qua, đặc biệt khi Zestril được dùng đồng thời với thuốc lợi tiểu.

Dễ xảy ra hơn ở bệnh nhân tổn thương thận trước đó. Có thể cần giảm liều và/hoặc ngưng thuốc lời tiểu và/hoặc Zestril. Trong nhồi máu cơ tim cấp, không nên điều trị khởi đầu với lisinoprill ở bệnh nhân có biểu hiện rối loạn chức năng thận, nghĩa là nồng độ creatinine huyết thanh > 177 micromol/lít và/hoặc protein niệu vượt quá 500 mg/24h. Nếu rối loạn chức năng thận phát triển trong suốt quá trình điều trị với Zestril (nồng độ creatinine huyết thanh > 265 micromol/lít hay gấp đôi so với các trị số trước khi điều trị) thì nên xem xét đến việc ngưng dùng Zestril.

Bệnh nhân thẩm phân máu

Các phản ứng phản vệ đã được ghi nhận ở bệnh nhân được thẩm phân máu theo một số phương thức (ví dụ với màng thẩm phân có tốc độ thẩm phân cao AN 69) và điều trị đồng thời với một số thuốc ức chế ACE. Ở những bệnh nhân này cần xem xét việc sử dụng một loại màng thẩm phân khác hoặc nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác.

Quá mẫn/phù mạch: Phù mạch ở mặt, môi, lưỡi, thanh môn và/ hoặc thanh quản đã được ghi nhận trong một số hiếm trường hợp ở những bệnh nhân được điều trị với thuốc ức chế ACE, kể cả Zestril. Trong trường hợp này, cần ngưng dùng Zestril ngay lập tức và tiến hành theo dõi thích hợp để đảm bảo rằng các triệu chứng được giải quyết hoàn toàn trước khi bệnh nhân xuất viện.

Khi đau bụng, buồn nôn, nôn và tiêu chảy xảy ra mà không có nguyên nhân rõ rệt nên xem xét phù mạch ở ruột khi chuẩn đoán và nên ngừng trị bằng thuốc Zestril.

Một số đối tượng khác

Phụ nữ có thai: Việc sử dụng lisinopril trong thai kỳ không được khuyến cáo. Khi phát hiện có thai, phải ngưng lisinopril càng sớm càng tốt. Trừ khi dùng thuốc là thật cần thiết đối với vấn đề sinh tử của người mẹ.

Phụ nữ cho con bú: Người ta chưa biết Zestril có được bài tiết qua sữa mẹ hay không. Vì có nhiều loại thuốc được bài tiết qua sữa mẹ, nên cần thận trọng khi dùng Zestril ở phụ nữ cho con bú.

Chủng tộc: Thuốc ức chế ACE gây phù mạch ở người da đen với tỉ lệ cao hơn là ở người có màu da khác.

Giải mẫn cảm: Bệnh nhân dùng thuốc ức chế ACE trong quá trình điều trị giải mẫn cảm (ví dụ nọc độc loài hymenoptera) đã có những phản ứng loại phản vệ kéo dài. Cũng ở những bệnh nhân này, các phản ứng này đã không xảy ra khi tạm ngưng thuốc ức chế ACE nhưng xuất hiện khi vô tình sử dụng thuốc trở lại.

Ho: Ho đã được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức chế ACE. Điển hình là ho khan dai dẳng và tự hết khi ngưng thuốc. Ho do thuốc ức chế ACE phải được xem xét khi chuẩn đoán phân biệt nguyên nhân gây ho

Thủ thuật /gây mê: Ở bệnh nhân đại phẫu hoặc trong khi gây mê bằng các thuốc làm hạ huyết áp, Zestril có thể ức chế sự tạo thành angiotensin II thứ phát do phóng thích renin bù trừ. Nếu hạ huyết áp xảy ra và được nghĩ là do cơ chế này thì có thể điều chỉnh bằng cách bồi hoàn thể tích tuần hoàn.

Tương tác thuốc

Thuốc lợi tiểu

Khi thêm một thuốc lợi tiểu vào phác đồ điều trị của bệnh nhân đang sử dụng Zestril, tác dụng điều trị tăng huyết áp thường tăng thêm. Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu và đặc biệt là những bệnh nhân mới dùng lợi tiểu, đôi khi bị tụt huyết áp quá mức khi dùng thêm Zestril. Khả năng bị tụt huyết áp có triệu chứng với Zestril có thể được giảm tối thiểu bằng cách ngưng thuốc lợi tiểu trước khi bắt đầu điều trị với Zestril.

Insulin và các thuốc trị tiểu đường dạng uống

Thuốc ức chế ACE có khả năng làm gia tăng tác dụng hạ đường huyết của insuline và các thuốc trị tiểu đường dạng uống.

Các thuốc khác

Indomethacin có thể làm giảm hiệu lực điều trị tăng huyết áp khi dùng đồng thời với Zestril. Ở một số bệnh nhân có tổn thương chức năng thận đang được điều trị với thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), việc sử dụng đồng thời với lisinopril có thể dẫn đến sự suy giảm hơn nữa chức năng thận.

Zestril + nitrates mà không gây ra tương tác ngoại ý nào có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Cũng như với mọi loại thuốc thải natri khác, sự thải lithium có thể giảm. Do đó, phải theo dõi cẩn thận nồng độ lithium huyết thanh nếu có dùng muối lithium.

Mặc dù trên thử nghiệm lâm sàng, kali huyết thanh thường nằm trong giới hạn bình thường. Tuy nhiên hiện tượng tăng kali máu vẫn xảy ra ở một số bệnh nhân. Các yếu tố nguy cơ gây tăng kali máu bao gồm suy thận, tiểu đường và việc sử dụng đồng thời với thuốc lợi tiểu giữ kali (ví dụ spironolacone, triamterene hoặc amiloride), bổ sung kali hoặc sử dụng các chất thay thế muối có chứa kali. Nếu việc dùng đồng thời Zestril với bất kì thuốc nào đã trình bày trên được cho là cần thiết, thì cần sử dụng cẩn thận và cần theo dõi thường xuyên nồng độ kali huyết thanh. Nếu Zestril dùng với một thuốc lợi tiểu thải kali, tình trạng hạ kali máu do lợi tiểu có thể giảm.

Tác dụng không mong muốn

Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, Zestril thường được dùng nạp tốt. Trong đa số các trường hợp, các tác dụng ngoại ý thường nhẹ và thoáng qua. Các tác dụng ngoại ý thường gặp nhất của Zestril trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng là: chóng mặt, nhức đầu, tiêu chảy, mệt mỏi, ho và buồn nôn. Các tác dụng ngoại ý khác ít gặp hơn là: các tác dụng liên quan tư thế đứng (kể cả tụt huyết áp), nổi mẩn và suy nhược.

Quá mẫn/ phù mạch: Phù thần kinh – mạch ở mặt, môi, lưỡi, thanh môn và/ hoặc thanh quản đã được ghi nhận trong một số trường hợp. Rất hiếm trường hợp có ghi nhận phù mạch ở ruột.

Tim mạch: Nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não, có lẽ là thứ phát do tụt huyết áp quá mức ở bệnh nhân có nguy cơ cao. Hồi hộp, nhịp tim nhanh.

Tiêu hóa: Đau bụng, khó tiêu; khô miệng; viêm gan (thể tế bào gan hoặc ứ mật); vàng da; viêm tuỵ; nôn

Hệ thần kinh: Lú lẫn tâm thần; thay đổi tính tình; dị cảm; chóng mặt; rối loạn vị giác, rối loạn giấc ngủ.

Hệ hô hấp: Co thắt phế quản; viêm mũi; viêm xoang

Da: Rụng tóc; toát mồ hôi; ngứa ngáy; mề đay. Vẩy nến và rối loạn da nặng bao gồm bệnh pemphigus, hoại tử biểu bì gây độc, hội chứng stevens –johnson và hồng ban đa dạng.

Tiết niệu – sinh dục: Bất lực; thiểu niệu/vô niệu; suy thận cấp; rối loạn chức năng thận; tăng urê huyết.

Phức hợp triệu chứng đã được ghi nhận và có thể bao gồm một/nhiều triệu chứng sau:

Sốt, viêm mạch máu, đau cơ, đau khớp/ viêm khớp, kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính, tăng vận tốc lắng máu ( ESR), tăng bạch cầu ái toan, tăng bạch cầu, nổi mẩn, nhạy cảm ánh sáng hoặc các biểu hiện khác ở da có thể xảy ra.

Quá liều

Không có nhiều dữ liệu được ghi nhận về việc sử dụng quá liều Zestril ở người. Các hội chứng liên quan đến quá liều thuốc ức chế ACE có thể bao gồm: hạ huyết áp, sốc tuần hoàn, rối loạn điện giải, suy thận, thở gấp, nhịp tim nhanh, hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim chậm, hoa mặt chóng mặt, lo âu và ho.

Phương pháp điều trị được khuyến cáo đối với quá liều là truyền tĩnh mạch dung dịch NaCl 9%o. Nếu tăng huyết áp xảy ra, nên đặt bệnh nhân nằm ở tư thế chống sốc. Nếu có thể, nên điều trị cùng với angiotensin II và/ hoặc catecholamine tĩnh mạch. Nếu như bệnh nhân đã ăn trước đó, cần dùng các biện pháp để loại bỏ Zestril như gây nôn, rửa dạ dày, uống chất hấp phụ và natri sulfat. Zestril cũng có thể được loại bỏ từ hệ tuần hoàn chung bằng thẩm phân máu. Liệu pháp sử dụng máy trợ tim được chỉ định cho chứng nhịp tim chậm kháng trị. Các dấu hiệu sự sống, nồng độ chất điện giải và creatinine huyết tương nên được giám sát thường xuyên.

Benh.vn

Nguồn tham khảo

Sản phẩm cùng nhóm bệnh

Đăng ký nhận tư vấn miễn phí

Đăng ký nhận tư vấn miễn phí