4 tiêu chuẩn chẩn đoán tắc mạch ối và các dấu hiệu

Tắc mạch ối là một biến chứng bất khả kháng, cực kỳ nguy hiểm, tỷ lệ tử vong rất cao. Chưa có một can thiệp nào cho thấy có thể tiên lượng được việc sản phụ bị tắc mạch ối.

Thời gian vừa qua xảy ra một số ca biến chứng sản khoa gây tử vong cho sản phụ. Và được chẩn đoán là do biến chứng tắc mạch ối. Đây là một biến chứng bất khả kháng, cực kỳ nguy hiểm, tỷ lệ tử vong rất cao. Chưa có một can thiệp nào cho thấy tiên lượng được việc sản phụ bị tắc mạch ối. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu thêm về các biến chứng nguy hiểm của căn bệnh này

Thời điểm gây tắc mạch ối

Tắc mạch ối thường xảy ra trong chuyển dạ nhưng cũng có thể xảy ra trong khi mổ lấy thai, sảy thai, chấn thương bụng, chọc hút nước ối, thậm chí có thể gặp tắc mạch ối sau khi đẻ, sau mổ lấy thai. Một số lý do hay gặp như: rau cài răng lược, vỡ tử cung, sót rau.

Thời điểm xảy ra tắc mạch ối cũng rất khác nhau tuỳ trường hợp,
- 12% số trường hợp xảy ra tắc mạch ối khi màng ối còn nguyên
- 70% xảy ra trong chuyển dạ,
- 11% xảy ra sau đẻ qua đường âm đạo,
- 19% xảy ra trong mổ lấy thai khi đã có chuyển dạ hay khi chưa có chuyển dạ.
TMO hiếm gặp, không có dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm đặc trưng.

Dấu hiệu lâm sàng tắc mạch ối

Tắc mạch ối xuất hiện đột ngột với các dấu hiệu nguy hiểm đặc trưng sau:

- Rét run, rùng mình đột ngột
- Sốt
- Mặt tím tái
- Đau tức ngực
- Khó thở vào
- Buồn nôn và nôn
- Thở nhanh,nông
- Đôi khi loạn nhịp tim, tim đập nhanh
- Tụt mạnh huyết áp
- Bồn chồn, lo lắng, hột hoảng sợ sệt, choáng
- Chuyển trạng tháI hột hoảng sang co giật cứng, dễ nhầm sản giật.
- Mất ý thức
- Phù phổi

Trên 80% số trường hợp người bệnh có biểu hiện ngừng tim, ngừng thở trong vài phút đầu tiên. Và chết trong vòng từ 2 đến 3 giờ. Có đến 50% số trường hợp tử vong ngay trong giờ đầu xuất hiện triệu chứng.

Nếu người bệnh thoát qua được giai đoạn này (khoảng 40% số trường hợp) sẽ có biểu hiện chảy máu dữ dội nhiều nơi do đờ tử cung (nếu sau đẻ) và do đông máu rải rác trong lòng mạch. Chảy máu từ tử cung không thể cầm được. Số trường hợp có biểu hiện phù phổi ở giai đoạn này cũng cao.

Bốn tiêu chuẩn chẩn đoán tắc mạch ối

Theo Hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ và Anh khuyến cáo, chẩn đoán tắc mạch ối khi có đồng thời 4 tiêu chuẩn sau:

- Tụt huyết áp đột ngột hay ngừng tim

- Thiếu ôxy cấp tính

- Bệnh lý đông máu hay chảy máu nặng mà không có các lý giải khác

- Tất cả xảy ra trong chuyển dạ, mổ lấy thai hay trong vòng 30 phút sau đẻ mà không có lý giải nào khác cho các dấu hiệu này.

Các xét nghiệm phục vụ chẩn đoán:

- Xét nghiệm khí trong máu; công thức máu

- Đông máu

- Xquang phổi: thường không tìm thấy dấu hiệu đặc hiệu, có thể quan sát thấy dấu hiệu phù phổi;

- Điện tâm đồ: có thể thấy nhịp tim nhanh, phần ST và sóng T thay đổi.

Chẩn đoán xác định sau cùng là kết quả mổ tử thi (tìm thấy tế bào của thai và thành phần nước ối trong động mạch phổi người mẹ). Chẩn đoán phân biệt với rất nhiều hội chứng khác: tắc mạch do huyết khối, tắc mạch do khí, choáng nhiễm khuẩn, nhồi máu cơ tim cấp tính, choáng phản vệ do các nguyên nhân khác nhau, rau bong non hay phản ứng của gây tê vùng. 

Hướng xử trí khi sản phụ bị tắc mạch ối
Khi rất nghi ngờ tắc mạch ối với những dấu hiệu tiêu chuẩn ở trên, lập tức:
- Duy trì cung cấp oxy cho sản phụ (đặt nội khí quản,thở máy)
- Đặt hơn 2 đường truyền tĩnh mạch, nâng huyết áp bằng dung dịch cao phân tử.
- Hồi sức tim nếu ngừng tim,có thể dùng Adresnaline tiêm tĩnh mạch 1 mg, hoặc qua đường nội khí quản 3 mg, hoặc Xylocaine 1 mg/kg tiêm tĩnh mạch chậm (trong 2 phút). Có thể chích lại sau mỗi 3 - 5 phút. Tuy nhiên, liều tổng cộng của xylocaine không được quá 3 mg/kg.
- Làm các xét nghiệm cấp cứu: -XN khí trong máu
- Công thức máu
- Đông máu
- Theo dõi bằng monitor.
-Truyền máu nếu kết quả đông máu không tốt kèm chảy máu dữ dội. Máu toàn phần hay hồng cầu đậm đặc và huyết tương đông được dùng.

Tuy nhiên trên đây chỉ là những xử trí triệu chứng nhằm hồi phục dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân không xử lý được căn nguyên.Vì tai biến này hay xảy ra đột ngột và tiến triển nhanh nên hầu hết bệnh nhân đều tử vong. Nếu thai chưa xổ thì hầu hết thai nhi không cứu kịp. Ở các nước có trang bị hiện đại, người ta có thể mổ ngay để cứu thai nhưng tính may rủi cũng rất lớn.

Trường hợp bệnh tiến triển chậm hơn thì có thể mở lồng ngực người mẹ, tìm và lấy đi khối huyết tắc ở động mạch để cứu mẹ. Tuy nhiên, trong thế kỷ 20 chỉ có một trường hợp may mắn như vậy đó là một sản phụ ở Pháp.

Benh.vn 

adv-content