Aricept

Thuốc Aricept được dùng bằng đường uống vào buổi tối ngay trước khi ngủ chữa bệnh sa sút trí tuệ Alzheimer

Thành phần: Donepezil HCl

Viên bao phim 5 mg : hộp 30 viên, 
Viên bao phim 10 mg : hộp 30 viên
Thành phần
Cho 1 viên: Donepezil HCl    5 mg  Tương đương : Donepezil base    4,56 mg
Cho 1 viên: Donepezil HCl    10 mg Tương đương : Donepezil base    9,12 mg
Tá dược: lactose monohydrate, tinh bột bắp, microcrystalline cellulose, hydroxypropyl cellulose và magnesium stearate. Bao phim chứa talc, polyethylene glycol, hydroxypropyl methyl cellulose và titanium dioxide. Ngoài ra, viên nén 10mg chứa ion oxide vàng (tổng hợp) như là chất tạo màu.


Dược lực
Donepezil hydrochloride là chất ức chế acetylcholinesterase đặc trưng và thuận nghịch của cholinesterase, chiếm ưu thế trong não.
Donepezil hydrochloride là chất ức chế enzyme này có hiệu nghiệm gấp 1.000 lần hơn buturylcholinesterase, enzyme hiện diện chủ yếu bên ngoài hệ thần kinh trung ương.
Ở những bệnh nhân giảm trí nhớ trong bệnh Alzheimer tham gia vào thử nghiệm lâm sàng, việc dùng ARICEPT liều duy nhất hàng ngày từ 5mg đến 10mg tạo ra sự ức chế hoạt tính men acetylcholinesterase ở trạng thái cân bằng (đo ở màng tế bào hồng cầu) là 63,6% và 77,3% (theo thứ tự liều như trên) khi đo liều sau cùng. Tác động ức chế acetylcholinesterase của Donepezil hydrochloride (AChE) ở tế bào hồng cầu tương đương với các tác động của nó ở vỏ não. Ngoài ra, người ta đã chứng minh có sự tương quan có ý nghĩa giữa các nồng độ Donepezil hydrochloride trong huyết tương, sự ức chế AChE và sự thay đổi trong thang độ đo ADAS, một thang đo nhạy giúp đánh giá trí nhớ.
Tuy nhiên, nên lưu ý rằng thuốc này không phải là thuốc điều trị tiệt căn. Tất cả bệnh nhân sẽ tiếp tục biểu hiện dấu hiệu tiến triển cơ bản của bệnh học thần kinh.
Dược động học
Hấp thu: Dùng Aricept đường uống sẽ tạo ra nồng độ có thể dự đoán được trong huyết tương với trị số cực đại đạt được khoảng 3 đến 4 giờ sau khi uống. Nồng độ trong huyết tương và diện tích dưới đường cong biểu diễn tăng tỷ lệ với liều dùng. Thời gian bán hủy ở giai đoạn cuối khoảng 70 giờ, như vậy, việc dùng liều duy nhất hàng ngày nhiều sẽ đưa đến sự tiếp cận dần đến trạng thái cân bằng. Khoảng trạng thái cân bằng đạt được trong vòng 3 tuần sau khi bắt đầu trị liệu. Một khi đạt được trạng thái cân bằng, nồng độ Donepezil hydrochloride trong huyết tương và hoạt tính về dược lực học liên quan cho thấy có rất ít biến đổi trong tiến trình trong ngày. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của Donepezil hydrochloride.
Phân bố: Khoảng 95% Donepezil hydrochloride gắn với protein huyết tương người. Sự phân bố Donepezil hydrochloride ở các mô khác nhau chưa được nghiên cứu rõ ràng. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu trên qui mô lớn tiến hành trên những người tình nguyện nam khỏe mạnh, 240 giờ sau khi dùng liều duy nhất 5 mg Donepezil hydrochloride được đánh dấu bằng chất đồng vị phóng xạ C14, khoảng 28% chất đồng vị đánh dấu vẫn chưa thu hồi được. Điều này cho thấy rằng Donepezil hydrochloride và/hoặc các chất chuyển hóa của nó có thể tồn tại trong cơ thể hơn 10 ngày.
Chuyển hóa/thải trừ: Donepezil hydrochloride được đào thải nguyên dạng trong nước tiểu và được chuyển hóa bởi hệ thống P450 cytochrome thành các sản phẩm chuyển hóa kép, không phải tất cả các chất chuyển hóa này đều được xác định. Sau khi dùng liều duy nhất 5 mg Donepezil hydrochloride được đánh dấu bằng C14, độ phóng xạ huyết tương, được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm liều dùng, hiện diện chủ yếu ở dạng Donepezil hydrochloride không thay đổi (30%), 6-0 desmethyl donepezil (11% - sản phẩm chuyển hóa duy nhất thể hiện hoạt tính tương tự với Donepezil hydrochloride), donepezil-cis-N-oxide (9%), 5-0-desmethyl donepezil (7%) và phức hợp glucoronide của 5-0-demethyl donepezil (3%).
Khoảng 57% tổng lượng phóng xạ đã dùng được thu hồi lại từ nước tiểu và 14,5% được thu hồi lại từ phân. Điều này cho thấy sự biến hóa sinh học và sự thải trừ ra nước tiểu là đường thải trừ chủ yếu. Không có dấu hiệu nào cho thấy donepezil hydrochloride và/hoặc bất kỳ chất chuyển hóa nào của nó có chu kỳ gan ruột. Nồng độ Donepezil huyết tương giảm theo thời gian bán hủy khoảng 70 giờ.
Giới tính, chủng tộc và việc hút thuốc là không có ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng; chỉ ảnh hưởng đến nồng độ Donepezil hydrochloride trong huyết tương.
Tính chất dược động học / dược lực học - Các đặc điểm của bệnh nhân: là một chất ức chế AChE, Donepezil hydrochloride được thừa nhận làm tăng chức năng tiết acetylcholine ở hệ thần kinh trung ương, do đó, thuốc có lợi ích trong trị liệu.
Enzyme AChE xuất hiện ở ngoại vi tế bào hồng cầu, vì vậy việc đánh giá tác động của AChE ở màng hồng cầu cung cấp một chỉ số về dược lực học của Donepezil hydrochloride.
Chất đánh dấu thay thế này đã được đánh giá trong một số thử nghiệm về dược động học/ dược lực học ở người và trong những thử nghiệm lâm sàng có kiểm chứng.
Nồng độ Donepezil hydrochloride trong huyết tương những người thử nghiệm và phương pháp đo lường sự ức chế AChE chứng tỏ rằng những bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng đã thể hiện tác động Donepezil hydrochloride và những tác dụng dược lý của nó như đã dự đoán.
Các kết quả từ việc theo dõi việc dùng thuốc trị liệu không cho thấy có mối quan hệ rõ ràng nào giữa nồng độ thuốc trong huyết tương và phản ứng bất lợi của thuốc.
Trong hai thử nghiệm mù đôi ngẫu nhiên, những khác biệt về giả dược có ý nghĩa thống kê hiện diện ở mỗi trong hai phương pháp đo lường kết quả sơ khởi này (thang ADAS/CIBIC+).
Chỉ định
Điều trị triệu chứng giảm trí nhớ ở mức độ nhẹ hoặc vừa trong bệnh Alzheimer.
Chống chỉ định
Quá mẫn cảm với Donepezil hydrochloride, các dẫn xuất của piperidine hoặc bất cứ tá dược nào trong công thức.

Liều lượng và cách dùng
Người lớn/người cao tuổi:
Việc điều trị bắt đầu ở liều 5 mg/ngày (liều 1 lần mỗi ngày). Aricept được dùng bằng đường uống vào buổi tối ngay trước khi ngủ. Liều 5 mg/ngày nên được duy trì ít nhất là một tháng để có thể đánh giá những đáp ứng lâm sàng sớm nhất đối với việc điều trị cũng như giúp đạt được nồng độ Donepezil hydrochloride ở trạng thái ổn định. Sau một tháng đánh giá lâm sàng trong việc điều trị ở liều 5 mg/ngày, có thể tăng liều Aricept lên đến 10 mg/ngày (liều 1 lần mỗi ngày). Liều tối đa hàng ngày được đề nghị là 10 mg. Các liều lớn hơn 10 mg/ngày chưa được nghiên cứu trong thử nghiệm lâm sàng.
Khi ngưng điều trị có thể thấy sự giảm dần những tác dụng có lợi của Aricept. Không có chứng cứ nào về tác dụng phản hồi sau khi ngưng điều trị đột ngột.
Suy thận và gan:
Một phác đồ liều tương tự có thể được dùng cho bệnh nhân suy thận hoặc suy gan ở mức độ nhẹ hoặc vừa vì những tình trạng này không ảnh hưởng đến độ thanh thải của Donepezil hydrochloride.
Trẻ em:
Aricept không được đề nghị dùng cho trẻ em.
Quá liều
Liều gây chết ước tính trung bình của Donepezil hydrochloride sau khi dùng một liều uống duy nhất ở chuột nhắt là 45 mg/kg và chuột cống là 32 mg/kg, hoặc gấp khoảng 225 và 160 lần liều tối đa 10 mg mỗi ngày dùng cho người. Các dấu hiệu liên quan đến liều của sự kích thích cholinergic được ghi nhận ở các động vật thí nghiệm và bao gồm giảm cử động tự phát, tư thế nằm sấp, dáng đi lảo đảo, chảy nước mắt, co giật rung, hô hấp giảm sút, tiết nước bọt, co đồng tử, co cứng cơ cục bộ, giảm hô hấp và thân nhiệt bề mặt giảm. Việc dùng quá liều với chất ức chế cholinesterase có thể đưa đến cơn tiết acetylcholine đặc trưng bởi buồn nôn, ói mửa trầm trọng, tiết nước bọt, đổ mồ hôi, chậm nhịp tim, huyết áp thấp, giảm hô hấp, đột quỵ và co giật. Có khả năng làm tăng nhược cơ và có thể đưa đến tử vong nếu các cơ hô hấp bị ảnh hưởng.
Trong bất kỳ trường hợp dùng quá liều nào, nên dùng các biện pháp hỗ trợ toàn thân. Chất chống tiết cholin bậc ba như atropine có thể được sử dụng như một thuốc giải độc trong trường hợp quá liều Aricept. Liều atropine sulphate tiêm tĩnh mạch định chuẩn có hiệu quả được đề nghị: liều khởi đầu từ 1 đến 2 mg tiêm tĩnh mạch với liều kế tiếp được dựa trên đáp ứng lâm sàng. Các đáp ứng không điển hình về huyết áp và nhịp tim đã được báo cáo với các tác dụng giống cholin khác khi dùng phối hợp với chất chống tiết cholin bậc bốn như glycopyrrolate. Chưa biết được Donepezil hydrochloride và/hoặc các sản phẩm chuyển hóa của nó có thể được thải trừ bằng thẩm tách hay không (thẩm tách máu, thẩm phân phúc mạc hoặc lọc máu).

Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng
Gây mê: Aricept là chất ức chế men cholinesterase có khả năng tăng cường sự giãn cơ loại succinylcholine trong quá trình gây mê.
Tim mạch: Do tác dụng dược lý của thuốc này, các chất ức chế men cholinesterase có thể có các tác động cường thần kinh đối giao cảm trên nhịp tim (chẳng hạn như làm chậm nhịp tim). Khả năng chịu tác dụng này có thể đặc biệt quan trọng đối với những bệnh nhân có "hội chứng bệnh xoang" hoặc những tình trạng bệnh lý dẫn truyền trên thất của tim.
Tiêu hóa: Những bệnh nhân có nguy cơ gia tăng u loét cao (đường tiêu hóa), chẳng hạn như những bệnh nhân có tiền sử loét hoặc những bệnh nhân đang dùng đồng thời các thuốc kháng viêm không steroid (NAIDs) cần được theo dõi các triệu chứng. Tuy nhiên, những nghiên cứu lâm sàng về Aricept cho thấy không có sự gia tăng nào liên quan đến giả dược trong tỷ lệ bệnh loét tiêu hóa hoặc xuất huyết đường tiêu hóa.
Cơ quan sinh dục niệu: Dù chưa được ghi nhận trong những thử nghiệm lâm sàng về Aricept, nhưng các thuốc có tác dụng giống cholin có thể gây ra bí tiểu.
Bệnh lý thần kinh: Động kinh: Người ta tin rằng các thuốc có tác dụng giống choline có khả năng gây co giật toàn thân. Tuy nhiên, cơn động kinh cũng có thể là một biểu hiệu của bệnh Alzheimer.
Phổi: Do các tác dụng giống cholin của thuốc, nên cẩn thận khi kê toa các chất ức chế cholinesterase cho những bệnh nhân có tiền sử hen suyễn hoặc bệnh phổi tắc nghẽn.
Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc:
Dựa trên những tính chất dược lực học và những tác dụng bất lợi của thuốc, Aricept có khả năng gây ảnh hưởng đến khả năng lái xe hay làm giảm khả năng vận hành máy móc. Tuy nhiên, chứng giảm trí nhớ của bệnh Alzheimer có thể làm giảm khả năng lái xe hoặc làm giảm khả năng vận hành máy móc.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Lúc có thai:
Aricept chỉ nên dùng trong thai kỳ nếu như lợi ích của việc dùng thuốc quan trọng hơn các nguy cơ có thể xảy ra đối với thai nhi.
Lúc nuôi con bú:
Người ta chưa xác định Donepezil hydrochloride có được tiết vào sữa mẹ hay không và cũng chưa có nghiên cứu nào ở phụ nữ đang cho con bú. Aricept chỉ được dùng ở phụ nữ đang cho con bú nếu như lợi ích có thể mang đến quan trọng hơn nguy cơ có thể xảy ra cho trẻ.
Tương tác thuốc
Quá trình chuyển hóa donepezil hydrochloride chậm và gần như không bão hòa sau các liều điều trị, điều này phù hợp với ghi nhận cho rằng donepezil hydrochloride và/hoặc bất kỳ sản phẩm chuyển hóa nào của nó cũng không ức chế quá trình chuyển hóa theophylline, warfarin, cimetidine hoặc digoxin ở người. 
Sự chuyển hóa donepezil hydrochloride không bị ảnh hưởng bởi việc dùng đồng thời digoxin hay cimetidine. Tuy nhiên, donepezil hydrochloride có khả năng ảnh hưởng đến những thuốc có tác động kháng cholinergic. Nó cũng có khả năng tác động hiệp lực khi điều trị đồng thời với các thuốc như: succinyl choline, các tác chất ức chế thần kinh - cơ khác, hay các chất chủ vận cholinergic.
Trong những nghiên cứu mở kéo dài, không có tác dụng phụ nào liên quan đến các tương tác thuốc được ghi nhận khi bệnh nhân dùng Aricept đồng thời với các chất ức chế tái tiếp nhận serotonin có chọn lọc, thuốc an thần, hoặc (trong một số ít trường hợp) điều trị kháng hội chứng Parkinson.
Tác dụng ngoại ý
Hầu hết những tác dụng phụ thường không nghiêm trọng và chỉ thoáng qua tự nhiên.
Tác dụng ngoại ý phổ biến nhất (tỉ lệ ≥ 5% và gấp đôi tần số giả dược) là tiêu chảy và các cơn co rút cơ.
Các tác dụng ngoại ý khác (tỉ lệ ≥ 5%) là mệt mỏi, buồn nôn, ói mửa, mất ngủ và chóng mặt.
Chưa có bất thường đáng chú ý nào trong các giá trị xét nghiệm được ghi nhận.
Việc điều trị có thể liên quan đến sự gia tăng nhẹ nồng độ creatine kinase trong máu cơ.
Bảo quản dưới 30°C.
Hãng xản xuất: Eisai

adv-content
Các bài viết liên quan