Các xét nghiệm chẩn đoán và theo dõi bệnh viêm gan virus C trong khi điều trị

Những bệnh nhân trải qua điều trị viêm gan virus C cần theo dõi thường xuyên để đảm bảo rằng các thông số thể hiện đáp ứng thuốc là tốt

Những bệnh nhân trải qua điều trị viêm gan virus C cần theo dõi thường xuyên để đảm bảo rằng các thông số sau đây được xử lý tốt:

- Những thay đổi về máu có thể có

- Những vấn đề tuân thủ có thể có

- Xử lý thích hợp bất cứ tác dụng phụ nào

- Đáp ứng virus với điều trị

- Tình trạng gan

- Tình trạng sức khỏe và tinh thần chung của bệnh nhân

Vài nét ngắn gọn về các xét nghiệm thường được thực hiện trước khi điều trị.

- Xét nghiệm kiểu di truyền: nên được thực hiện để xác định thời gian điều trị, liều ribavirin và khả năng đáp ứng virus kéo dài. Đôi khi, một người có thể bị nhiễm virus nhiều hơn một kiểu di truyền. Nếu nhiễm trùng hỗn tạp có kiểu di truyền đề kháng với điều trị (như kiểu di truyền 1 hoặc 4), điều trị nên dựa vào kiểu di truyền đó.

- Xét nghiệm PCR (polymerase chain reaction): phát hiện sự hiện diện của RNA của virus trong mẫu máu. Hai xét nghiệm có giá trị là:

+ Xét nghiệm PCR định tính có thể phát hiện thấp đến mức 50 đơn vị quốc tế (IU)/ml (tương đương khoảng 100 mảnh virus/mL). Trong nhiễm trùng mạn, nồng độ virus thường thay đổi từ 105 đến 107 đơn vị/mL, vì thế ít có nguy cơ xét nghiệm “âm tính giả”

+ Xét nghiệm PCR định lượng được sử dụng để xác định số lượng virus lúc ban đầu và tại thời điểm tuần thứ 12 cho những người bị kiểu di truyền 1,4,5 và 6 để kiểm tra xem họ có đáp ứng virus sớm không. Xét nghiệm tuần 12 đối với kiểu di truyền 2 và 3 chỉ cần thiết nếu bệnh nhân có nguy cơ ngừng điều trị sớm vì nói chung các bệnh nhân với kiểu di truyền 2 và 3 có tỷ lệ đáp ứng virus cao hơn nhiều so với các nhóm khác. Những xét nghiệm mới hơn nhạy hơn đã được giới thiệu (phát hiện nồng độ virus thấp khoảng 10 đơn vị quốc tế/mL)

Hai xét nghiệm PCR định tính nữa được thực hiện là lúc kết thúc điều trị và lúc chấm dứt thời gian theo dõi xác định bệnh nhân có đáp ứng virus kéo dài. Điều này có thể xem là chữa khỏi vì tái phát sau thời điểm này là rất hiếm.

- Xét nghiệm men gan (ALT, AST)

Không có mối tương quan giữa mức độ tăng ALT và độ nặng của bệnh gan. Những bệnh nhân có nồng độ ALT bình thường thực ra có thể có tổn thương gan đáng kể.

Nồng độ ALT trước khi điều trị không phải là dấu hiệu đáng tin cậy về độ nặng của bệnh (như xơ hóa) và nồng độ ALT có thể thay đổi theo diễn tiến thời gian ở những người bị nhiễm HCV

- Sinh thiết gan: được tiến hành để nhận biết độ nặng và tiến triển của bệnh.

Vì sinh thiết gan là thử nghiệm gây tổn thương và thực hiện có một vài nguy cơ biến chứng, một số thầy thuốc hướng tới các dấu hiệu sinh hóa không gây tổn thương là biểu hiện của xơ hóa mà những xét nghiệm này có thể đo lường trong máu. Tóm lại, sinh thiết gan không còn được xem là bắt buộc để bắt đầu điều trị nếu có lý lẽ chắc chắn để bắt đầu điều trị không cần sinh thiết gan.

Những thử nghiệm khác được đề nghị để bảo đảm rằng bệnh nhân không bị tác dụng không mong muốn do điều trị bao gồm:

- Công thức máu: theo dõi thường xuyên haemoglobin, bạch cầu đa nhân trung tính vào tiểu cầu cùng với giảm rabavirin và interferon tương ứng một cách thích hợp.

- Theo dõi tâm thần: bệnh nhân nên được điều tra để xác định bất cứ thay đổi nào, cần chú ý nếu bệnh nhân dễ bị thay đổi cảm xúc và dễ cáu giận. Thay đổi liều interferon và có thể sử dụng thuốc chống trầm cảm có thể được áp dụng nhưng phải đưa bệnh nhân đi khám chuyên khoa nếu những rối loạn tâm thần diễn biến xấu hơn. Trong những trường hợp bệnh nhân nặng hoặc có khuynh hướng tự tử, nên ngừng interferon và chuyển bệnh nhân đến chuyên gia tâm thần. Nhu cầu theo dõi cẩn thận tình trạng tâm thần của bệnh nhân nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khám bệnh đều đặn trong suốt thời gian điều trị.

- Chức năng tuyến giáp: các xét nghiệm TSH hoặc T4 nên được thực hiện thường xuyên để xác định bất cứ thay đổi nào về chức năng tuyến giáp. Bệnh nhân có thể than phiển run hoặc thay đổi cân nặng thất thường mà những thay đổi này gợi ý những thay đổi về tuyến giáp.

Tóm tắt:

- Kiểu di truyền của virus nên được xác định trước khi điều trị vì điều này sẽ xác định liều ribavirin và thời gian điều trị.

- Phát hiện RNA HCV bằng thử nghiệm PCR xác nhận nhiễm HCV tiến triển.

- Nồng độ ALT không phải là dấu hiệu đáng tin cậy cho giai đoạn xơ hóa

- Sinh thiết gan có thể cung cấp thông tin quan trọng để đánh giá tính cấp cách cần bắt đầu điều trị, tuy nhiên mối tương quan giữa nguy cơ và hiệu quả của phương thức này nên được đánh giá trên từng bệnh nhân.

- Bệnh nhân nên được theo dõi đều đặn (ít nhất mỗi tháng) để đảm bảo liều tối ưu được sử dụng và được dung nạp

- Kiểm tra thông tin về những xét nghiệm thích hợp để thực hiện trong khi điều trị và những thay đổi về liều đã được khuyến cáo.

Benh.vn (http://www.benh.vn/; http://www.benh.vn/ )

adv-content