Tổng quan về Bệnh Hạ cam mềm

Hạ cam mềm là bệnh nhiễm trùng đường sinh dục cấp tính, tự tiêm nhiễm, đặc trưng lâm sàng bởi loét hoại tử hóa. Sang thương có thể gây biến chứng sưng viêm và làm mủ hạch bạch huyết liên hệ.

Hạ cam mềm là bệnh nhiễm trùng đường sinh dục cấp tính, tự tiêm nhiễm, đặc trưng lâm sàng bởi loét hoại tử hóa. Sang thương có thể gây biến chứng sưng viêm và làm mủ hạch bạch huyết liên hệ.

Nam nhiều hơn nữ, tỉ lệ 3/1. Trên thế giới và ở nước ta trong những năm gần đây ít gặp bệnh này. Tại BV Da Liều TP. Hồ Chí Minh năm 2000, bệnh có tỉ lệ là 0,04% trên tổng số BLTQĐTD.

Địa dư: ít gặp ở những nước kỹ nghệ phát triển, thường gặp hơn ở những xứ nhiệt đới, những nước trong thế giới thứ ba.

NGUYÊN NHÂN

Là trực khuẩn do bác sĩ August Ducreyi, người Ý, tìm ra năm 1889 nên dược gọi là Hemophilus ducreyi.

Nạn mải dâm là nguồn nhiễm quan trọng của hạ cam mềm.

LÂM SÀNG

Thời kỳ ủ bệnh rất ngắn, 3-5 ngày (có thể thay đổi từ 1 - 15 ngày). Triệu chứng chính là săng không có hạch.

1. SĂNG HẠ CAM

- Săng Hạ cam là vết loét sâu, hình tròn, kích thước không đểu, đường kính từ 3 - 15mm. Bề mặt vết loét thường có mủ. Bờ vết loét rất rõ, quanh co, có thể tách rời được, thường là bờ đôi với viền ngoài màu đỏ, viền trong màu vàng (dấu hiệu bờ dõi của Petges). Đáy vết loét không bằng phẳng, lỗ chỗ như bị mối ăn, có những chồi thịt nhỏ, nhiều mạch máu, nhiều vết loét nhỏ. Săng hạ cam mềm nằm trên một nền da sưng phù, giới hạn không rõ, không cứng như săng giang mai, mềm, đau khi bóp.

- Số lượng: thường có nhiều săng do tự lây lan.

2. HẠCH HẠ CAM MỀM

- Hạch hạ cam mềm là biến chứng, không phải triệu chứng, không phải có săng, có hạch như giang mai. Hạch chỉ có 1/3 trường hợp, thường phái nam, rất hiếm ở phái nữ.

- Thường hạch xuất hiện trong vòng 1-2 tuần lễ đầu do bệnh nhân đi lại nhiều. Thường là 1 hạch, ở một bên bẹn. Hạch dần dần sưng to, viêm đau, tiến đến nung mủ tạo bu bông. Nếu không trị, bu bông sẽ dính vào da, mở ra tạo lỗ dò làm chảy mủ, chảy máu ra ngoài. Lỗ dò khi vỡ rồi sẽ tạo một săng người ta gọi là sự hóa săng (chancrellisation).

3. HẠ CAM MỀM NGOÀI BỘ PHẬN SINH DỤC

- Hạ cam mềm ngoài bộ phận sinh dục nguyên phát ở ngón tay với sự phát triển hạch trẽn ròng rọc. Sang thương ở rốn, lưỡi, mũi, vú, cằm và kết mạc nhãn cầu đã dược báo cáo.

DẠNG LÂM SÀNG

1. Hạ cam mềm thoáng qua

Một vết loét nông, nhỏ, lành tự nhiên, không để lại sẹo, có thể có hạch bẹn cấp tính. Sau đó nung mủ. Dạng này hiếm.

2. Hạ cam mểm khổng lồ

Sang thương đơn độc, lan tỏa ra ngoại biên và làm ổ loét lan rộng.

3. Hạ cam mềm dạng nhỏ

Dạng có săng nhỏ.

4. Hạ cam mềm dạng herpes

Loét thường nông và nhièu, dạng này dai dẳng hàng tháng, hàng năm.

5. Hạ cam mềm dạng hỗn hợp

Là hỗn hợp của giang mai và hạ cam mềm.

6. Hạ cam mềm dạng nang lông

ở chỗ có lông, mặt trong dùi, xương mu.

7. Hạ cam mềm dạng sẩn

8. Hạ cam mềm dạng cục hay gôm

9. Hạ cam mềm dạng loét sâu quảng

Là một thể hủy diệt nhanh chóng của bệnh hạ cam mềm do H. ducreyi có độc lực cao.

10. Hạ cam mềm dạng vòng hoa

Thường ở phần ngoài của da qui đầu, xếp vòng tròn giống vòng hoa.

11. Hạ cam mềm ỏ niệu đạo

Cần phân biệt với bệnh lậu.

- BIẾN CHỨNG

- Viêm qi ộẩu, hẹp bao qui đầu, nghẹt qui đầu.

- Bội nhi ễm trực khuẩn thoi xoắn (íusospirochetosis) thường dẫn đến sự hủy diệt đáng kể và nhanh chóng tổ chức.

- Hạch: đã tả ở phần trên.

- Viêm hạch bạch huyết ở lưng dương vật

- Loét sâu quảng

- Biến chứng xa: làm mủ khối bắp chân, viêm gan, huyết niệu.

LIÊN QUAN GIỮA HẠ CAM MỀM VÀ NHIỄM HIV

Những vết loét sinh dục làm gia tăng nguy cơ cho sự lây truyền HIV. Đối với những bệnh nhân hạ cam mềm nhiêm HIV, việc điều trị bằng liều đơn độc hoặc ngắn hạn thường thất bại, do đó phải điều trị bằng chế điều trị nhiều ngày.

TIẾN TRIỂN LÂM SÀNG

Thường bệnh tự giới hạn và chỉ gây một ít bất lợi. Phản ứng toàn thản hiếm hay nhẹ. Loét có thể lành dẩn dần hay có thể lan rộng, bu bông căng cứng làm mủ và đau có thể vỡ ra hoặc lành sau ít tuần.

CHẨN ĐOÁN

- CHẨN ĐOÁN DƯƠNG TÍNH

Chẩn đoán hạ cam mềm có thể dược hỗ trợ hay xác định bởi một hay nhiều phương pháp sau đây:

- Nhặn diện H. ducreyi iừ sang thương

- Phết kinh: lấy bệnh phẩm từ bờ sang thương. Nhuộm Wright, Gram hay Giemsa.

- Cấy: H. ducreyi có thể tăng trưởng khi lấy mủ hạch cấy vào thạch máu có 4% C02 ở 35°c, sau 4-5 ngày mọc thành chuỗi.

- Phản ứng nội bì Ito Reenstiema

Chích trong da l/10ml “vaccin antichancrelleux” của Nicolle và Durand ở mặt ngoài cánh tay và đọc kết quả sau 48 giờ. Kết quả dương tính khi nổi sẩn phù và tồn tại nhiều ngày.

- Sự tự liêm chủng: (auto inoculation)

Lấy mủ từ sang thương phết vào khu vực đá vạch trước đó ở đùi. Ba ngày sau, mụn mủ li ti thường xuất hiện ở vị trí tiêm nhiêm, khi vỡ thành chỏ loét hạ cam mềm điển hình.

- Sinh thiết

- PCR

Phương pháp phản ứng nội bì, tự tiêm nhiêm và sinh thiết không thực tế và hiện thời không còn áp dụng.

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIÊT SĂNG GIANG MAI

- Săng giang mai là vết lở, hình tròn hay bầu dục, đáy màu đỏ có vẻ sạch sẽ, bóp cứng và không đau, thường chỉ một vết và có hạch đi kèm. Nhiều hạch lớn nhỏ không đều riêng biệt, chắc, không đau, không làm mủ.

-Xoắn khuẩn giang mai (+), VDRL (+).

Herpes sinh dục

Nhiều mụn nước vỡ ra để lại nhiều vết trợt nhỏ, tròn, riêng biệt hay kết hợp lại, bờ có nhiều vòng cung đau, mềm, chóng lành, hay tái phát. Tìm tế bào UNNA (+).

Hột xoài

- Săng nhỏ, chóng lành, ít thấy (1/5 trường hợp).

- Một khối rất nhiều hạch ở bẹn,

- Phản ứng Frei (+).

Săng ghẻ

Ngoài triệu chứng sang thương ở bộ phận sinh dục còn các sang thương khác ở vị trí đặc biệt của bệnh ghẻ.

Nhiễm độc da dị ứng do thuốc

- Nhiều vết trầy da, như bỏng, bẩm tím

- C thể  có tổn thương tương tự ở môi, miệng, tay chân nơi khác.

PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ

PHÒNG BỆNH: (Cấp I)

- Như các bệnh hoa liễu khác.

- Theo dõi tình trạng dương vật tới ngày thứ 7 sau khi giao hợp. Nếu thấy xuất hiện 1 hay nhiều dát hay mụn mủ thì phải can thiệp ngay bằng kháng sinh hay sulfamide.

ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị

- Điều trị cho bệnh nhân và người tiếp xúc sinh lý.

- Thử huyết thanh chẩn đoán giang mai và HIV.

- Nằm nghỉ.

- Điều trị toàn thân và tại chỗ.

Trị săng: (Cấp II)

Tại chỗ

Dùng dung dịch sát khuẩn (thí dụ povidone - iodine).

Toàn thân

Azithromycin lg uống 1 liều duy nhất.

Hoặc Ceftriaxone 250mg tiêm bắp 1 lẩn.

Hoặc Erythomycine uống 0,5g X 4 lần/ngày X 7 ngày.

Hoặc Ciprofloxacine 0,5g X 2 lẩn/ngày X 3 ngày.

BIẾN CHỨNG HẠCH: (CẤP III)

Hạch cứng:

- Nằm nghỉ và đắp ấm

Thuốc như trên.

Hạch làm mủ:

- Không nên rạch, rút mủ cẩn thận và vô trùng

- Thuốc như trên.

KẾT LUẬN

Hạ cam mềm là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục chính, dù tỉ lệ mắc bệnh tương đối ít hơn so với lậu và giang mai. Bệnh có tiên lượng tốt và thường lành hoàn toàn nếu được chẩn đoán đúng và điều trị sớm.

Bs. Nguyễn Tất Thắng

adv-content