Basedow, đại cương, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

1. Khái niệm: Basedow là một bệnh cường chức năng tuyến giáp, kết hợp với bướu phì đại lan toả do kháng thể kháng thụ thể TSH, kháng thể này tác động như một chủ vận của TSH

Basedow đặc trưng bởi cường chức năng, phì đại và quá sản tuyến giáp kèm theo đó là sự thay đổi bệnh lý trong các cơ quan và tổ chức do ảnh hưởng của hormon giáp tiết ra quá nhiều. Bệnh thường gặp và là một trong những bệnh có cơ chế tự  miễn.

Bệnh có nhiều tên gọi:

– Bệnh Graves (Graves’disease)

– Bệnh Basedow (Basedow’s disease)

– Bệnh Parry (Parry’s disease)

– Bệnh bướu giáp có lồi mắt

– Bệnh cường chức năng giáp do miễn dịch.

2. Lịch sử phát hiện bệnh:

– Năm 1722 Saint Yves nói tới một bệnh tuyến giáp có lồi mắt

– 1800 Flajani lần đầu tiên mô tả bệnh lý tim mạch – cường giáp trạng.

– 1825 Parry báo cáo 5 trường hợp có triệu chứng giống nhau đó là tuyến giáp to, tim to và có biểu hiện suy tim mà nguyên nhân là do cường  chức năng tuyến giáp.

– 1839 Graves công bố nghiên cứu cho thấy cường giáp có liên quan tới bệnh lý lồi mắt ở bệnh nhân.

– 1840 Basedow mô tả khá đầy đủ các biểu hiện chính của bệnh lý cường giáp (tim to, cổ to, mắt lồi).

– Cuối thế kỷ XIX Pierre Marie nêu thêm triệu chứng thường gặp nữa là triệu chứng run tay.

– 1992 Plummer lần đầu tiên mô tả một bướu nhân có cường giáp nhưng không có lồi mắt gọi là u tuyến độc.

– 1941- 1943. Rawson, Seantet, Astwood tìm ra thuốc kháng giáp trạng tổng hợp.

– 1938. Hamilton, Soley sử dụng I131 trong chẩn đoán và điều trị cường giáp. ở thời kỳ này sinh học phát triển mạnh, nhiều phương pháp được áp dụng để chẩn đoán và chứng minh được mối liên hệ qua lại giữa tuyến yên, tuyến giáp với cơ chế điều hoà ngược (feedback), các phương pháp xạ hình tuyến giáp, nghiệm pháp động kích thích tuyến giáp (Quérido). Kìm hãm tuyến giáp (Werner), đo phản xạ đồ gân gót (lawson). Định lượng hormon tuyến giáp đk giúp cho chẩn đoán bệnh một cách chính xác.

– 1956 Adams và purves phát hiện ra LATS (Long acting Thyroid Stimulator) và được Muro 1959 chứng minh đúng đây là một globulin miễn dịch, một tự kháng thể kích thích tuyến giáp.

 Nguyên nhân – cơ chế bệnh sinh

1. Nguyên nhân:

+ Trước đây bệnh Basedow được coi là hậu quả của tổn thương trục điều hoà tuyến giáp – tuyến yên – dưới đồi. Ngày nay nhờ những tiến bộ về miễn dịch học, người ta hiểu khá chi tiết về nguyên nhân sinh bệnh của basedow là một bệnh tự miễn.

+ ở người có cơ địa di truyền, những rối loạn tự miễn dịch xảy ra do tác động của các yếu tố môi trường (nhiễm trùng, stress ). Rối loạn miễn dịch (miễn dịch tế bào, miễn dịch dịch thể) gây ra các tổn thương tế bào tuyến giáp.

Rối loạn miễn dịch tế bào có vai trò quan trọng của sự khởi phát bệnh .

– Rối loạn miễn dịch thể bao gồm hai loại tự kháng thể chiếm 80-90% các trường hợp: kháng thể kháng Globulin tuyến giáp và kháng thể kháng Microsom. Khoảng 20% các trường hợp còn lại không có mặt của các kháng thể trên được giải thích bởi sự xuất hiện các phức hợp miễn dịch lưu hành

– Kháng thể trước đây được gọi là LATS (Long acting Thyroid Stimulator) có tác dụng kích thích tuyến giáp ở thỏ thí nghiệm và có tác dụng như TSH nhưng gần đây được chứng minh rằng LATS không có tác dụng trên tế bào tuyến giáp người.

+ Một số yếu tố nguy cơ:

– Thai nghén, đặc biệt giai đoạn chu sinh

– Dùng nhiều Iode, thuốc chứa Iode

– Muối Lithium có thể làm thay đổi đáp ứng miễn dịch.

– Nhiễm vi khuẩn, virus.

– Ngừng Corticoid đột ngột.

line-height:115%;font-family:”Times New Roman”,”serif”;color:black;letter-spacing:

Ý kiến của bạn

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.