Ung thư thực quản bệnh lý ngoại khoa

Tổng quan về bệnh

Ung thư thực quản là loại ung thư hay gặp và nằm trong danh sách 10 loại ung thư hàng đầu ở Việt Nam, bệnh tiến triển ban đầu rất thầm lặng. Tần suất mắc bệnh thay đổi tùy theo vùng địa dư, có thể do yếu tố môi trường và dinh dưỡng. Hiện nay, mặc dù có nhiều tiến bộ trong ngoại khoa và các phương pháp điều trị phối hợp nhưng tỷ lệ bệnh nhân sống sau 5 năm chỉ dưới 20%.

Các yếu tố thuận lợi

Nguy cơ ung thư thực quản gia tăng theo tuổi. Ung  thư thực quản gặp chủ  yếu ở nam giới, tỷ lệ nam: nữ là 9:1.

– Chế độ ăn và thói quen sinh hoạt: rượu và thuốc lá được chứng minh có liên quan mật thiết đến gia tăng tần suất ung thư thực quản, trong khi ở những người theo chế độ ăn nhiều  trái cây và rau, tần suất ung thư  thực quản thấp rõ rệt.

– Chế độ ăn thiếu các chất như vitamin C, vitamin A hay riboflavin có thể làm tăng tần suất mắc ung thư thực quản, như các nghiên cứu ở Trung Quốc hay Iran cho thấy.

– Các bệnh lý ở thực quản: trào ngược dạ dày-thực quản, viêm thực quản mạn tính do trào ngược, tổn thương Barrette thực quản, phình thực quản, sẹo thực quản do bỏng hóa chất… đều có thể dẫn đến ung thư thực quản.

Vì vậy, ở những người có các yếu tố thuận lợi hay mắc các bệnh lý trên, thầy  thuốc cần theo dõi sát và tiến hành nội soi kịp thời để phát hiện ung thư ở giai  đoạn sớm.

Giải phẫu thực quản

Thực quản là một ống cơ, bắt đầu từ chỗ tiếp theo hầu, tương ứng với bờ dưới của sụn nhẫn hay bờ dưới đốt sống cổ VII trên phim chụp cắt lớp, từ đó thực quản đi qua trung thất, cơ hoành và tận cùng của tâm vị của dạ dày. Thực quản dài khoảng 25cm, dẹt do các thành áp sát vào nhau, khi có khối thức ăn đang  nuốt thì thực quản có hình ống. Thực quản dính chặt đầu trên của nó với sụn nhẫn và đầu dưới cơ hoành.

Cách phân chia thực quản

Về mặt phẫu thuật thực quản được chia làm 3 đoạn:

– 1/3 trên bắt đầu từ miệng thực quản (cách cung răng trên 14-15cm) cho tới bờ trên quai động mạch chủ (cách cung răng trên 25cm) đoạn này chỉ dài chừng 10cm.

– 1/3 giữa: bắt đầu từ bờ trên quai động mạch chủ cho tới bờ dưới tĩnh mạch phổi dưới (cách cung răng trên 33cm), đoạn này dài chừng 8cm liên quan tới các mạch máu lớn của tim.

– 1/3 dưới: bắt đầu từ bờ dưới tĩnh mạch phổi cho tới tâm vị (cách cung răng trên 40cm){C}{C}{C}
Thực quản được cấu tạo bởi 3 lớp: trong cùng là lớp niêm mạc bao gồm những tế bào biểu mô đáy (ở phần lớn đoạn trên thực quản) và biểu mô trụ (ở đoạn cuối thực quản), kế tiếp theo là lớp dưới niêm mạc chứa những tế bào tuyến nhầy, ngoài cùng là lớp cơ, với những dải cơ dọc  ngoài và những sợi cơ vòng ở trong. 1/3 trên thực quản là cơ vân, còn 2/3 dưới là cơ trơn.

Giải phẫu bệnh

1. Đại thể

Cũng như ở mọi đoạn khác của  đường tiêu hóa, về mặt  đại  thể của  ung thư thực quản có những thể sau:

– Thể sùi: một vùng niêm mạc thực quản dài 1-2cm, có khi 7-8cm sùi lên những nụ trông giống như hình hoa súp-lơ không đều, cứng, trên bề mặt có những nụ sùi có những chỗ hoại tử, mủn nát, rớm máu, có khi tạo thành những ổ loét.

– Thể thâm nhiễm: ung thư thể thâm nhiễm chủ yếu phát triển ở lớp niêm mạc xâm lấn vào lớp dưới niêm mạc rồi vào lớp cơ, phát triển theo hình vòng  nhẫn, do đó làm ống  thực quản bị chít hẹp.

– Thể loét: ung thư thể loét là hay gặp nhất, kích thước có thể lớn nhỏ khác nhau, có bờ rõ, chung quanh ổ loét thành thực quản bị nhiễm cứng. Có loét chiếm hết chu vi của lòng thực quản.
Ba hình thái trên ít gặp đơn độc mà thường kết hợp với nhau để tạo thành các thể trung gian. Ngoài ra kết hợp với khối u thường thấy giãn thực quản bên trên khối u kèm hiện tượng viêm nhiễm.

2. Vi thể

Phần lớn là ung thư biểu bì hay còn gọi là ung thư biểu mô tế bào gai, chiếm 90%, thường là tế bào biệt hóa có sừng hoặc không có sừng. Ung thư biểu mô dạng tuyến chỉ gặp khoảng 5-10%, ở phần dưới của thực quản và tâm vị. Loại ung thư này khó phân biệt được là từ thực quản hay từ dạ dày phát triển ra, hay gặp ở thực quản Barrett.

Sarcoma thực quản rất hiếm gặp, có tỷ lệ khoảng 0,1-1,5% trong tất cả các khối u của  thực quản. Loại này thường định vị ở đoạn thực quản ngực hoặc cổ.

3. Lan tỏa, di căn

Ung thư 1/3 giữa nằm trong phần hẹp của trung thất nên dễ xâm lấn sang các tổ chức  chung quanh như khí phế  quản, quai  động mạch chủ, màng phổi, dây thần kinh quặt ngược, ống ngực. Ung thư 1/3 dưới thực quản nằm ở vùng rộng của  trung thất, có mô  mỡ lỏng lẻo bao bọc, vì vậy chậm xâm lấn ra chung quanh; ở đây khối u xâm nhập  vào cột sống, màng tim, màng phổi phải và có thể vào cơ hoành, cột  sống, động mạch chủ  dưới. 

Đường di căn của ung thư thực quản là đường bạch mạch và đường máu. Theo đường  bạch mạch, ung thư thực quản di căn xuống vùng tâm vị, mạch vành phần bụng, di căn lên trên vào dây thần kinh quặt ngược vào hố trên đòn và cổ, khối hạch giữa thanh quản và khí quản. Theo đường  máu, tổ chức ung thư di căn vào gan, xương và phổi.

Biểu hiện lâm sàng

1. Triệu chứng cơ năng

1.1 Nuốt nghẹn

Lúc bệnh mới bắt đầu, tổ chức ung thư còn khu trú, biểu hiện bởi những rối loạn khi nuốt, nhất là với thức ăn đặc. Nghẹn có khi tăng lên, có khi giảm xuống đôi chút nhưng bao giờ cũng có, vì ngoài  thương tổn thực thể do khối u, bệnh thường có kèm theo yếu tố viêm nhiễm, phù nề tại chỗ. Sau khoảng 2 tháng, triệu chứng nuốt nghẹn  sẽ tăng lên dần và kéo dài, mới đầu chỉ thấy nuốt nghẹn với thức ăn đặc, về sau nghẹn  cả với thức ăn lỏng như cháo, nước.

Nuốt nghẹn thường hiện diện muộn trong tiền sử  bệnh vì thực quản không có lớp thanh mạc nên cơ trơn giãn ra một cách dễ dàng.  Kết quả là khi dấu hiệu nuốt nghẹn đã rõ để bệnh nhân đi khám bệnh thì có trên 60% số trường hợp đã bị ung thư giai  đoạn muộn.

Một vài trường hợp ung thư thực quản không có triệu chứng nuốt nghẹn bởi vì khối u tiên phát chỉ xâm lấn vào những cấu trúc lân cận mà không xâm lấn vào lòng thực quản. Khi  khối u xâm lấn vào khí-phế  quản bệnh nhân có thể thay đổi giọng nói và ho dữ dội.

1.2. Nôn

Thường thấy ở giai đoạn muộn, khi khối u tăng kích thước làm chít hẹp lòng thực quản. Nôn xuất hiện khi  biểu hiện nuốt nghẹn đã rõ rệt. Nôn có thể xảy ra trong bữa ăn ngay sau khi ăn. Chất nôn là thức ăn vừa mới ăn vào còn nguyên cả hạt cơm, hạt  cháo không có lẫn dịch vị. Có thể có vài tia máu nhỏ trong chất  nôn.

1.3. Tiết nhiều nước bọt

Khi bệnh nhân nuốt nghẹn nhiều thì nước bọt hầu như không xuống được dạ dày. Vì  nước bọt tiết nhiều mà không nuốt được nên bệnh nhân luôn phải nhổ nước bọt.

Ngoài những triệu chứng trên, những bệnh nhân ung thư thực quản đến muộn người ta cũng ghi  nhận một số triệu chứng cơ năng khác như: ho nhiều,cơn nấc, đau tức ngực, đau sau xương ức (thể hiện xâm lấn của khối u vào vùng cột sống), hơi thở có mùi hôi  thối hoặc các triệu chứng của biến chứng như sặc, khàn tiếng…

2. Triệu chứng thực thể

Khi bệnh nhân đến tương đối sớm thì thăm khám thực thể thường không phát hiện gì. Nhưng khi đến muộn, lúc đã có di căn thì c&oac

Ý kiến của bạn