fbpx

Chẩn đoán loãng xương

Bệnh Loãng xương ngày càng trở nên phổ biến, một phần là do tình trạng dinh dưỡng hiện đại có nhiều vấn đề, một mặt là do tiến bộ khoa học trong việc chẩn đoán loãng xương phát triển nên nhiều ca loãng xương được phát hiện hơn thông qua xét nghiệm.

Bệnh Loãng xương ngày càng trở nên phổ biến, một phần là do tình trạng dinh dưỡng hiện đại có nhiều vấn đề, một mặt là do tiến bộ khoa học trong việc chẩn đoán loãng xương phát triển nên nhiều ca loãng xương được phát hiện hơn thông qua xét nghiệm. Hãy cùng benh.vn tìm hiểu về các biện pháp chẩn đoán loãng xương hiện nay.

Định nghĩa Loãng xương

Loãng xương là bệnh hệ thống làm giảm khối lượng xương, hư biến cấu trúc xương nên tăng tính dễ gãy của xương dẫn tới tăng nguy cơ gãy xương.

Theo WHO 1994 loãng xương được định nghĩa dựa trên mật độ chất khoáng của xương(BMD- Bone Mineral Density) theo chỉ số T – score như sau: T score > -1: bình thường, – 2,5 < T – score < –1: thiểu xương, T – score < –2,5: loãng xương, T – score < -2.5 và có gẫy xương: loãng xương nặng.

Phân loại loãng xương

1. Loãng xương tiên phát: không tìm thấy nguyên nhân nào khác ngoài tuổi và mãn kinh.

  • Typ 1: loãng xương sau mãn kinh: thiếu hụt estrogen, nữ tuổi 50 – 60, thường 10 – 15 năm sau mãn kinh. Mất khoáng xương bè (xương xốp), biểu hiện lún đốt sống hoặc gãy Pauteau Colles.
  • Typ 2: loãng xương tuổi già: liên quan tuổi và mất cân bằng tạo xương, cả 2 giới > 70 tuổi. Mất khoáng xương xốp và xương đặc (xương vỏ), biểu hiện: gãy cổ xương đùi, tuổi xuất hiện muộn hơn > 75.

2. Loãng xương thứ phát: suy thận, COPD, thuốc (corticoid, thuốc lá, ethanol, heparin..), bệnh nội tiết (hội chứng cushing, cường cận giáp, cường giáp, đái tháo đường), tăng vitamin A máu, bất động, hội chứng kém hấp thu, bệnh ác tính (đa u tuỷ xương…), sarcoidose…

Yếu tố nguy cơ loãng xương

  • Bất động hoặc giảm vận động kéo dài
  • Người gầy
  • Chế độ ăn thiếu canxi, phospho và vit D
  • Hút thuốc lá, uống nhiều cà phê và rượu
  • Người da trắng và châu Á
  • Tiền sử gia đình loãng xương
  • Giảm hormon sinh dục

Triệu chứng lâm sàng

1. Tập trung vào phát hiện yếu tố nguy cơ nên phát hiện sớm loãng xương từ khi chưa gãy xương.

2. Thông thường loãng xương không gây đau, trừ đau cấp do gãy xương

3. Các triệu chứng đầu tiên liên quan đến quá trình xẹp đốt sống hoặc gãy xương ngoại vi

4. Xẹp đốt sống:

  • Có thể xẹp đốt sống không đau. Giảm chiều cao cột sống > 3cm có thể là dấu hiệu của gãy lún cột sống.
  • Đau cột sống do xẹp đốt sống: xuất hiện tự nhiên hoặc sau gắng sức hoặc sang chấn nhỏ. Biểu hiện đau cấp tính có tính chất cơ học, khởi phát đột ngột, không lan, không chèn ép thần kinh, giảm rõ khi nằm. Đau giảm và hết sau vài tuần. Đau xuất hiện khi đốt sống mới bị xẹp hoặc đốt sông cũ bị xẹp thêm, thường ở các đốt sống chịu lực (D6 trở xuống). Tổn thương từ D2 trở lên hiếm khi do gãy xương.
  • Đau cột sống mạn tính: sau nhiều đợt đau cấp tính sẽ xuất hiện đau cột sống mạn tính do các rối loạn tư thế cột sống: giảm chiều cao, gù đoạn lưng, tới mức các xương sườn cuối cọ sát vào cánh chậu gây đau.

5. Gãy xương: các vị trí thường gặp là đầu trên xương đùi, xương cánh tay, đầu dưới xương cẳng tay, xương sườn, xương chậu và xương cùng. Có thể gãy sau một sang chấn rất nhẹ.

Triệu chứng Loãng xương trên phim X quang

Cột sống

1. Giai đoạn sớm:

  • Đốt sống tăng thấu quang, hình đốt sống răng lược.
  • Khi khối lượng xương mất > 30% mới phát hiện được.

2. Giai đoạn muộn:

Thấy biến dạng cột sống, tiến triển theo chỉ số Meunier: (1) đốt sống bình thường -> (2) đốt sống lõm mặt trên -> (3) đốt sống lõm 2 mặt -> (4) đốt sống hình chêm -> (5) đốt sống xẹp hình lưỡi.

X quang cho thấy tình trạng và số lượng các đốt sống bị lún.

Triệu chứng âm tính quan trọng:

  • Không có vùng huỷ xương trên thân đốt sống
  • Các đốt sống có mật độ đồng nhất, có kết đặc ở vùng mâm đốt sống
  • Khe đĩa đệm không bị hẹp
  • Các cung sau hầu như bình thường

Vị trí khác

  • Chỉ số Barnet: đo tỷ lệ độ dày giữa vỏ/ tuỷ xương bàn ngón, thường ngón 2, nếu > 45% -> loãng xương
  • Chỉ số Singh 1970: đánh giá các bè xương ở đầu trên xương đùi -> nguy cơ gẫy cổ xương đùi.

Trên cộng hưởng từ

  • Lún xẹp đốt sống mới: giảm tín hiệu T1, tăng tín hiệu T2, khó phân biệt với xẹp do di căn K, tuy nhiên không có cấu trúc tròn kiểu di căn trong thân đốt sống
  • Lún xẹp muộn, sau 2 tháng: giảm tín hiệu T2.

Xét nghiệm

Các xét nghiệm hội chứng viêm (VSS, CRP, điện di protein máu) bình thường

Bilan phospho calci: bình thường. Phosphatase kiềm có thể tăng khi mới gãy xương.

Trường hợp nghi ngờ loãng xương thứ phát: xét nghiệm thêm:

  • Ca và PTH để loại trừ cường cận giáp
  • TSH và T3, T4 để loại trừ cường giáp
  • Vit D, corticoid, diện di protein huyết thanh…

Chẩn đoán

Sàng lọc: Bằng DEXA (test hấp thu tia X năng lượng kép)

Khuyến cáo

1. Tất cả phụ nữ > 65 tuổi

2. Có yếu tố nguy cơ:

  • Tiền sử gia đình loãng xương
  • Tiền sử gãy xương, nhất là tuổi trẻ

Loãng xương nên nghi ngờ ở bệnh nhân:

  • Gãy xương sau một chấn thương rất nhẹ
  • Ở người già có nhiều yếu tố nguy cơ có đau CS thắt lưng không giải thích được
  • Bệnh nhân tình cờ phát hiện giảm tỷ trọng trên X quang
  • Bệnh nhân có nguy cơ loãng xương thứ phát

Vị trí thường làm:

  • Thân đốt sống đánh giá nguy cơ lún xẹp CS
  • Cổ xương đùi đánh giá nguy cơ gãy cổ xương đùi

Chẩn đoán xác định: Dựa theo tiêu chuẩn WHO 1994

  • T score: so sánh giá trị bệnh nhân với mật độ xương trung bình của quần thể trẻ tuổi bình thường cùng giới.
  • Z score: so sánh giá trị bệnh nhân với mật độ xương trung bình của quần thể cùng giới, cùng tuổi và cùng điều kiện sống.

Xem thêm: Những cách bổ sung canxi an toàn và hiệu quả

Benh.vn

Chế độ ăn cho người bị bệnh xương khớp

Do ảnh hưởng của nền khí hậu nhiệt đới gió mùa nên số người mắc các bệnh về xương khớp khá nhiều. Bệnh xương khớp gây nhức nhối, đau đớn khiến bệnh nhân ăn không ngon, ngủ không yên, nhất là khi thời tiết thay đổi hoặc khi nhiệt độ xuống thấp dưới 10oC.

Ý kiến của bạn

Đăng ký nhận tư vấn miễn phí

Đăng ký nhận tư vấn miễn phí